Close Menu
  • Home
  • Families
    • PORTLAND
    • PHILIPPINES
    • PHILIPPINES – SILENT MISSIONARIES
    • TANZANA – THE LITTLE SISTERS
    • CONGO
    • FRANCE – PUBLIC ASSOCIATION
    • EL SALVADOR
    • MEXICO
    • INDIA
    • KENYA
    • Thỉnh Viên Phó Tế Vĩnh Viễn
    • VIETNAM – THANH HOÁ
    • VIETNAM – HUẾ
    • VIETNAM – MÁU ẤM AN VŨ
  • The FIRST CHURCH
  • The WELL
  • Teresa Charities
  • SAINT THERESE COLLEGE
  • FAIV FOUNDATION
  • VIETNAMESE ALLIANCE OF CULTURAL ARTISTS
  • FAITH PROMOTING NETWORK
  • CHUNG MỘT NIỀM TIN
  • CỘNG ĐOÀN PHÓ TẾ AN VŨ
    • Mời Gọi Vào Cộng Đoàn Phó Tế An Vũ
    • QUYỀN LỢI THÀNH VIÊN
    • LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG THIÊN ĐƯỜNG DƯỚI THẾ?
    • SỨ VỤ XÂY NHÀ THỜ
    • CẤU TRÚC CỘNG ĐOÀN
    • PRAYER
  • DEACON AN VU’S COMMUNITY
    • REPAY GOD’ s BLESSINGS
    • BENEFIT FOR MEMBERS
    • LISTS of MEMBERS
  • CONTACT US

Subscribe to Updates

Get the latest creative news from FooBar about art, design and business.

What's Hot

GIA ĐìNH MARTINS

November 9, 2025

Teresa Charities

November 8, 2025

Tanzania

November 8, 2025
Facebook X (Twitter) Instagram
Facebook X (Twitter) Instagram Pinterest Vimeo
Vũ Thành An
  • Home
  • Families
    • PORTLAND
    • PHILIPPINES
    • PHILIPPINES – SILENT MISSIONARIES
    • TANZANA – THE LITTLE SISTERS
    • CONGO
    • FRANCE – PUBLIC ASSOCIATION
    • EL SALVADOR
    • MEXICO
    • INDIA
    • KENYA
    • Thỉnh Viên Phó Tế Vĩnh Viễn
    • VIETNAM – THANH HOÁ
    • VIETNAM – HUẾ
    • VIETNAM – MÁU ẤM AN VŨ
  • The FIRST CHURCH
  • The WELL
  • Teresa Charities
  • SAINT THERESE COLLEGE
  • FAIV FOUNDATION
  • VIETNAMESE ALLIANCE OF CULTURAL ARTISTS
  • FAITH PROMOTING NETWORK
  • CHUNG MỘT NIỀM TIN
  • CỘNG ĐOÀN PHÓ TẾ AN VŨ
    • Mời Gọi Vào Cộng Đoàn Phó Tế An Vũ
    • QUYỀN LỢI THÀNH VIÊN
    • LÀM THẾ NÀO ĐỂ SỐNG THIÊN ĐƯỜNG DƯỚI THẾ?
    • SỨ VỤ XÂY NHÀ THỜ
    • CẤU TRÚC CỘNG ĐOÀN
    • PRAYER
  • DEACON AN VU’S COMMUNITY
    • REPAY GOD’ s BLESSINGS
    • BENEFIT FOR MEMBERS
    • LISTS of MEMBERS
  • CONTACT US
Home»Blog»Phó Tế Vũ Thành An – Tự Thuật.
Blog

Phó Tế Vũ Thành An – Tự Thuật.

By vuthanhanNovember 8, 2025No Comments163 Mins Read
Share Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Reddit Telegram Email
Share
Facebook Twitter LinkedIn Pinterest Email

Vũ Thành An
Tự Thuật

Lạy Thiên Chúa Kính Yêu
Thân hữu thường nhắc con viết lại cuộc đời mình. Bây giờ con đã trên 70 tuổi cho nên theo đức Vâng Lời con sẽ xin ghi lại một vài điều.
Thân phận con là một người tội lỗi cho nên con viết bản Tự Thuật này không phải để con nổi tiếng nhưng chính là để nói lên lời Tạ Ơn Thiên Chúa trong sâu thẳm hồn con.
Chúa biết đó , con đã muốn từ bỏ mọi sự để chỉ có biết Chúa mà thôi kể từ những năm 1981 khi con được rửa tội. Đặc biệt sau này khi được chịu chức Phó Tế năm 2002 con đã chỉ muốn đóng cuộc đời mình lại trong việc phục vụ Giáo Xứ và chu toàn bổn phận của con trong gia đình. Thế rồi để giúp đỡ người nghèo con lại nghe theo lời mời gọi của Chúa để ra đi vào lại cuộc đời. Ra đi Làm chứng nhân cho Tình Yêu của Chúa và cũng để có cơ hội vận động nhiều người tham gia chương trình Gạo Cho Các Cụ Cao Niên.
Nhìn lại cuộc đời mình sau 70 trên trần thế con thấy được Tình Thương quá bội Chúa đã ban cho con. Con muốn kể lại đây những biến cố trong cuộc đời con để mọi người thấy được rằng không phải Chúa chỉ Cứu Nhân Loại Nói Chung mà Chúa còn yêu thương Cứu từng người chúng con. Nếu Chúa đã thương vực con dậy từ đáy vực sâu,cho còn từ một kẻ sống dở chết dở năm 1981 trở nên một người sống sung mãn từ năm 2002 cho đến nay là Mùa Vọng Giáng Sinh năm 2013, thì Chúa cũng yêu thương nâng niu từng người và mọi người dưới thế.
Con quá yếu hèn và tội lỗi nhưng Chúa vẫn thương con, vẫn lo cho còn từng bước đi hàng ngày. Nhận biết được điều đó cho nên con đã báo đáp với hết cả con người con có thể. Không phải con muốn tâng công gì nhưng chỉ mong Chúa đón nhận con sau này trong Nước của Người. Đón con như là một tên nô lệ đáng tội nghiệp, chỉ trông chờ những mảnh vụn rớt xuống từ bàn ăn của Chúa.
Con sẽ viết theo những gì con nhớ được, có thể không theo thứ tự thời gian. Sau này nếu con thi giờ con sẽ sắp xếp lại.

Tuổi Thơ
Con sinh năm 1943 tại Làng Quần Phương Trung Huyện Hải Hậu, Tỉnh Nam Định. Con không được rõ ngày giờ vì không còn tìm được sổ khai sinh bản gốc trong làng. Sau này bố con làm lại Giấy Thế Vì Khai Sinh cho con và chọn ngày 20 tháng 4 làm ngày sinh của con. Sau này khi muốn tổ chức sinh nhật con đã lấy ngày 21 tháng 3 là ngày con được rửa tội.
Con nghe kể lại rằng sau khi sinh con được chừng bốn ngày thì mẹ con phải bồng bế con chạy loạn. Ký ức con bây giờ chỉ nhớ được rằng con đã theo bố con ở những nơi bố con đóng quân. Bố con lúc đó là Hạ Sỹ Quan Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Con đã được đi học ở Bùi Chu, làng Hành Thiện rồi sau đó chuyển lên Nam Định học. Năm 1952 mẹ con bị bệnh nặng sau khi sanh em bé đặt tên là Dung. Con chỉ nghe nói là mẹ con bị bệnh hậu sản. Chữa mãi không khỏi, mẹ con và em Dung được đưa về quê sống với Bà Nội của con. Ít lâu sau con được biết mẹ con và cả em Dung đã mất ở nhà quê. Khi đất nước bị chia đôi nam 1954 thì bố con đang ở Saigon học Khóa Sỹ Quan Đặc Biệt tại Dalat, con được đưa về quê sống với Bà Nội.
Chúng con đi đò về tới nhà quê đậu lại trước ngõ nhà khi trời đã tối và rất lạnh. Một tay cầm túi đồ cá nhân, một tay cầm cây đàn Mandoline bố con mua cho con, con đã rơi tòm xuống sông. Có một kỷ niệm rất đáng sợ hơn: trong một buổi sinh hoạt thiếu nhi trong xóm con cùng với một số boạn nhỏ khác vào trong vườn nhà con để gọi là lao động. Một người bạn nhỏ tuối hơn con – lúc đó con 10 tuổi và bạn đó khỏang 7 hay 8 tuổi- đứng dưói gốc cây chuối, con cầm con dao chặt lá chuối bên trên. Trước đó vì con dao cùn cho nên phải chặt vài nhát cành lá chuối mới đứt. Lần này cũng vậy con ỷ y rằng nhát đầu chắc lá chuối không đứt được nhưng chẳng may nhát dao sau khi chặt đứt lá chuối đã rơi xuống đầu người bạn nhỏ này. Con nhìn thấy rõ dòng máu chảy từ đỉnh đầu xuống trán người bạn. Con đã sợ quá vất con dao bỏ chạy. Rất may bạn con đã không sao.
Ngày hôm sau thì mẹ kế của con đã từ Nam Định về đưa ba chị em chúng con là Chị Vũ Thị Kim Liên, em Vũ Thị Như Lan lên Hải Phòng rồi vào Nam đoàn tụ với bố con.
Từ đó đất nước bị chia hai và đã có cuộc chiến tương tàn Bắc Nam. Chúng con đã tưởng sẽ không bao giờ được trở về quê cũ nữa. Thế rồi một ngày kia năm 2005 con cũng được trở về Làng Quần Phương Trung, Cầu Phe Ba gặp lại bà Lan và ngỏ lời xin lỗi bà về tai nạn chết người.
Vào trong Nam ba chị em chúng con được bố rất thương yêu cho ăn học đàng hoàng. Để tránh cảnh mẹ ghẻ con chồng, bố con đã cho 3 chị em chúng con ở riêng, chính vì vậy tuổi thơ của con có lúc đã có thể gọi là hoang đàng. Lúc đầu thì con cũng cố học chăm chỉ. Hồi đó thì lấy bằng Tiểu Học cũng phải thi rồi Trung Học Đệ Nhất có cả thi Vấn Đáp sau khi đã đậu kỳ thi Viết. Con đã đậu qua những kỳ thi này, chính vị vậy cậu con đã thưởng cho con một chiếc Velo Solex mới toanh sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp năm 1958. Vì sống xa bố con, vừa có chiếc xe mới cho nên con đã đi chơi, không chăm học như trước nữa. Ngoài việc bố con cho chiếc xe gắn máy mới, bố con còn cho mỗi tháng 100 đồng để tiêu riêng. Với số tiền này mỗi tháng con dành ra 50 đồng để đi nghe nhạc ở quán Anh Vũ, nơi này có những ca sỹ rốt nổi tiếng bấy giờ như: Thanh Thuý, Tuý Phượng, Minh Hiếu…từ đó con bắt trước bạn sáng tác nhạc. Hồi đó cùng học một lớp với con có anh bạn lấy tên là Nguyên Diệu. Anh Nguyên Diệu khoe với con bài hát của anh được ca sỹ hát mà còn được in bán nữa. Con nhớ bài hát mở đầu có câu: ” Giờ chia tay anh ra chốn biên cương tôi nơi sa trường….” Con nghĩ bụng nếu anh Nguyên Diệu sáng tác được thì con cũng sáng tác được. Thế là con bắt chước bắt đầu làm thơ và sáng tác ca khúc. Năm 1960 khi học lớp Đệ Nhị trường Nguyễn Trãi con có đưa một ca khúc con sáng tác cho nhạc sỹ Chung Quân ( sáng tác bài Làng Tôi rất nổi tiếng, đang làm Giáo Sư Nhạc trong trường) một bài hát của con. Nhạc Sỹ Chung Quân đã chê. Con vẫn không nản tiếp tục sáng tác. Con thường được bạn cùng lớp bầu làm Trưởng Ban Văn Nghệ, con tổ chức trình diễn ca hát, kịch, làm bích báo. Trong lớp con hồi đó đã có nhiều bạn nổi tiếng trong giới nghệ sỹ sau này, đặc biệt là Thi Sỹ Du Tử Lê.

Mối tình với Lê Phi Uyên
Nhờ những hoat động văn nghệ và các sáng tác thơ và nhạc đầu tiên này con được quen với Lê Phi Uyên – một Ân Nhân lớn của con vì chính Uyên đã mở cho con con đường về với Chúa bằng cách dạy con Kinh Kính Mừng. Lê Phi Uên cũng là người của âm nhạc, lúc đó cô đang đi học violine hàng tuần với Nhạc Sỹ Tuấn Khanh. Có thể nói con mê ngay Uyên, mẫu người lý tưởng của con thời đó: Uyên cao , gầy , lả lướt, chỉ mặc áo dài hai mầu trắng và đen, mái tóc dài che nửa khuôn mặt, đi Velo Solex. Bây giờ con cũng không thể hiểu tại sao Uyên lại chịu hẹn hò với con. Con lúc đó chỉ là một cậu thanh niên 17 tuổi, mới học lớp Đệ Nhị cao ráo thì có nhưng có người nói mặt con ” non choẹt”. Trong khi đó Uyên đã học năm Thứ Hai trường Đại Học Dươc, gia đình lại khá giả và có ông anh rất khó tính.
Uyên và con có lúc đã đề cập đến việc sau này sẽ về với nhau, sau đó Uyên sẽ vẫn giữ trinh trắng của con gái. Con có kể việc này với anh bạn thân là anh Phạm Huy Trung, anh cười nói: cậu diễu hả?. ( Có lẽ Uyên muốn bắt chước Đức Mẹ Maria.).
Hồi đó thi lấy bằng Tú Tài rất khó, con biết có người thi đến cả 5 lần vẫn rớt. Năm 1960 con thi bằng Tú Tài và dĩ nhiên vì không chăm học cho nên đã rớt. Thi rớt nên không còn được học trường công nữa, và cũng chính vì thi rớt nên bố con cũng không cho ở riêng nữa bắt trở về sống với gia đình. Thi rớt nên con rất xấu hổ với Uyên, cô đã lên năm thứ 3, chuẩn bị làm Dược Sỹ trong khi con vẫn còn học lớp Đệ Nhị, thua Uyên 5 lớp. Uyên cũng bị áp lực từ gia đình , nhất là ông anh, thế là chúng con âm thầm chia tay.
Mối tình với Nguyễn Thị Quỳnh
Con chuyển về học Đệ Nhị tại trường tư thục Hưng Đạo với quyết tâm phải đỗ Tú Tài cuối năm. Dù vậy con cũng vẫn tham gia hoạt động văn nghệ và tiếp tục sáng tác. ( nhạc của những bài Không Tên Số 2, số 8 được sáng tác trong thời gian này). Con tham gia Ban Văn Nghệ của Trừơng và đúng theo quyết tâm con đã đỗ Tú Tài 1 năm đó. Năm Đệ Nhất con thân với Nguyễn Thị Quỳnh lúc đó học Đệ Nhị. Nhà Quỳnh có tiệm sách ở đường Lê Lợi, ngay bên cạnh nhà sách Khai Trí, có thể gọi là khá giả. Cuộc tình này êm đềm được gần 2 năm. Sau biến cố 1 tháng 11 năm 1963 con vẫn đến thăm Quỳnh bằng chiếc xe đạp , trong khi ngoài đường Lê Lợi có cả một đoàn Môtô hộ tống một xe Jeep chở Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đến thăm chị Tuyết Mai ở chung nhà với Quỳnh. Được biết chị Tuyết Mai là chị họ của Quỳnh lúc đó đang làm Tiếp Viên Hàng Không Air Vietnam ở trọ. Thiếu Tứơng Kỳ đang theo đuổi chị Mai. Vì ở chung nhà cho nên con cũng thường gặp chị Mai và chị cũng quý con, chính chị Mai đã dạy con những bước nhảy đầu tiên. Không hiểu sao sau này có tin đồn là con có mối tình với chị Mai. Sự thật chỉ có vậy, con chỉ là đàn em của chị Mai.
Lúc con bắt đầu thân với Lê Thị Dung thì anh bạn con anh Phạm Huy Trung một hôm đã nói với Quỳnh: Thằng An nó đang quen với người khác. Thế là chúng con – Quỳnh và con- không còn chơi với nhau nữa. Mối tình với Quỳnh vẫn chỉ là mối tình thời học sinh, trong trắng, chưa sâu đậm, chưa có những đớn đau như những mối tình sau này. Con có gặp lại Quỳnh sau này và chúng con vẫn quý mến nhau.
Mối tình với Lê Thị Dung + Tình Khúc Thứ Nhất + Nhạc Chủ Đề
Sau khi con tốt nghiệp Trung Học năm 1963 thì biến cố chính trị lật dổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm xảy ra. Hoà vào không khí sôi nổi của sinh viên hồi bấy giờ con tham gia hoạt động của Tổng Hội Sinh Viên Saigon. Từ những hoạt động đó con được thân với những sinh viên nổi tiếng như là Lê Hữu Bôi, Lê Đình Điểu. Con đã gặp Lê Thị Dung lần đầu trong một buổi thu thanh chương trình Sinh Viên tại Đài Phát Thanh Saigon. Lần gặp đầu tiên ấy đã đánh mạnh vào tâm hồn con và Dung đã là trở nên mối tình khôn nguôi đến nhiều năm sau. Lúc đó Dung đã là Phó Tông Thứ Ký Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam ( sau này Dung đã được tín nhiệm trong chức Hội Trưởng Hội Nữ Hướng Đạo Việt Nam). Dung không phải là tuyệt sắc giai nhân nhưng chính sự đảm đang giỏi giang đã quyến rũ con. Dung vừa học năm Thứ Hai Luật Khoa vừa điều hành xưởng dệt của gia đình. Trong khi con chỉ là một học sinh 20 tuổi mới tốt nghiệp trung học. Con cũng không ngờ Dung có thể yêu con. Con nhớ mãi một buổi tối ở trường Luật Dung đã trao tay cho con nắm. Con có cảm tưởng như mình được bay lên. Dung đã mời con về nhà chơi và rồi việc đương nhiên xảy ra: Ba mẹ Dung đã không chấp nhận con. Lúc đầu Dung đã cưỡng lại ý của bố mẹ và cứ tiếp tục đi chơi với con. Một hôm Dung đã nói Dung sẽ đi với con tới cùng bất chấp ý kiến chủa cha mẹ. Không hiểu sao Dung đã biết con có khả năng viết ca khúc, một hôm Dung đã yêu cầu con viết một bài hát để kỷ niệm mối liên hệ giữa hai người. Trên một chuyến xe từ Vũng Tầu về Saigon trong một buổi chiều nhìn ánh nắng xế trên bầu trời xa con đã có được nét nhạc cho bài ca Dung mong đợi. Con đã viết mở đầu bài hát: Bài ca anh hứa cho em bấy lâu nay vẫn còn dang dở. Con đã khoe với anh Nguyễn Đình Toàn bài hát này. Anh Toàn đã chê lời con viết và anh bảo để anh viết lời cho. Chỉ trong một ngày sau anh Toàn đã đưa lại con bài hát do anh viết lời, đó là bài Tình Khúc Thứ Nhất. Anh Toàn hồi đó có người yêu ở Đà Nẵng tên là Phương , anh đã tặng bài hát cho cô Phương và con tặng bài hát cho Dung.
Bài hát này anh Nguyễn Đình Toàn đã hát lần đầu tiên trên Đài Phát Thanh Saigon và được thính giả tán thưởng nồng nhiệt. Qua bài hát này anh Toàn nói con mạnh dạn xin một chương trình nhạc trên Đài Phát Thanh. Sẽ có một đề tài cho mỗi chương trình. Con đã đặt tên cho chương trình là Nhạc Chủ Đề. Chương trình do con đứng tên Trưởng Ban bắt đầu khoảng giữa năm 1965, rất thành công nhờ vào lời giới thiệu do anh Toàn viết và đọc. Giọng đọc của anh rất quyến rũ người nghe. Có thể nói anh Toàn là linh hồn của Nhạc Chủ Đề. Chương trình đã lần lượt giới thiệu các Tác Giả, các Giọng Ca tên tuổi, các đề tài như: Mưa trong âm nhạc, Muà Thu…. Chương trình đã phát được hơn một năm thì anh Toàn nghỉ và con phải tiếp tục một mình. Tháng 7 năm 1967 con nhập ngũ khoá 25 Trường Võ Bị Sỹ Quan Thủ Đức chương trình tạm ngưng. Sau đó anh Toàn tiếp tục chương trình này một thời gian nữa.
Tưởng rằng Dung sẽ thực hiện đúng lời hứa là cùng với con đi đến trọn đời. Đó quả là một điều thật lý tưởng. Thực tế đã ngược lại. Dung từ từ lơ là con và một hôm Dung đã không tới chỗ hẹn nữa. Con đã như từ trên trời rớt xuống. Và lại một hôm con nhận được thiệp cưới của Dung. Người Dung nhận làm chồng cũng chẳng hơn con mấy về nhiều phương diện , hay nói đúng hơn là chỉ hơn con tuổi mà thôi. Con hiểu rằng con lúc đó còn quá trẻ, sự nghiệp chưa có, Dung không thể chờ đợi con được. Dù vậy con cũng thất vọng não nề, đến nỗi thốt lên trong Bài Không Tên Cuối Cùng: Con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng hay sao em?….
Sau này con nghiệm lại thì có một khiá cạnh Dung đã đúng vì Dung đã thoát khỏi nỗi đau khổ của hàng triệu người dân Miền Nam sau 30 tháng 4 năm 1975. Nhờ vào việc người phối ngẫu của Dung là anh Trần Văn Ngô được cử làm Tuỳ Viên Thông Tin tại Tokyo cho nên gia đình Dung đã an toàn trong ngày tang thương của Miền Nam. Gia Đình Dung bình yên ở Nhật sau đó định cư tại Paris Pháp Quốc. Năm 1991 con đã viết thêm một lời thứ hai cho bài Không Tên Cuối Cùng: Con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng đấy em ơi. Nếu chúng mình có thành đôi lứa chắc gì ta đã thoát ra khỏi đời khổ đau?.
Sự thật là vậy: nếu Dung đã làm trọn lời hứa đi với con đến cuối đời thì chắc là Dung đã chịu đau khổ như hàng triệu thiếu phụ khác phải lao đao lận đận tìm sống và còn phải nuôi con suốt 10 năm cải tạo!.
Lý do chính cho việc con viết thêm một lời thứ hai cho Những Bài Không Tên là con muốn nói lại một lời đáng lẽ không nên nói ra khi Dung bỏ con năm 1965. Trong bài Không Tên Cuối Cùng con đã viết trong lúc uất ức:
Con đường em đi đó con đường em theo đó đúng hay sao em?
Mưa bên chồng có làm em khóc, có làm em nhớ những khi mình mặn nồng?
Thực sự trong thời gian chúng con yêu nhau hơn một năm chưa bao giờ chúng con vượt qua lễ giáo đông phương. Mối liên hệ vẫn luôn trong trắng như bất cứ mối liên hệ nào khác của con trước và sau đó với những người tình của mình. Chúng con luôn trong sạch. Thế nhưng lời ca trên có thể sẽ gây hiểu lầm, có thể cho gia đình của Dung không được hạnh phúc. Lời ca được hát đi hát lại, khắp nơi, năm này cho đến năm khác chắc hẳn làm cho người phối ngẫu của Dung khó chịu. Những năm dài cải tạo, trong chốn âm u của tù tội con cứ hối hận mãi. Tại sao mình có thể viết những lời như vậy. Khi được tự do bày tỏ ý nghĩ của mình trong những ngày đầu làm lại cuộc đời tại Phi Luật Tân, tại trại tị nạn Bataan năm 1991 con đã viết lời thứ 2 cho Những Bài Không Tên, trong đó có câu quan trọng con thực sự muốn nói:
Con đường em đi đó, con đường em theo đó, đúng đấy em ơi.
Nếu chúng mình có thành đôi lứa chắc gì ta đã thoát ra khỏi đời khổ đau?.
Khi phổ biến lời thứ hai của Những Bài Không Tên có nhiều người thích nhưng cũng có nhiều người không bằng lòng. Con mong rằng quý vị thông cảm bởi vì đây là dịp con tạ lỗi công khai với những người bạn yêu dấu của con.
Sau khi Dung ra đi, con đã có thời gian dài rơi vào trống rỗng. Có thể nói là mất niềm tin:
Anh biết tin ai bây giờ?.
Người mình yêu thương nhất, người mình tin tưởng nhất đã bỏ ra đi….
Trong suốt những năm dài sau đó, mối tình với Dung đã khiến con thương nhớ khôn nguôi, nhất là những năm tù tội. Năm 1998, con có dịp sang Paris cùng với nhà thơ Du Tử Lê và Nhạc Sỹ Từ Công Phụng. Chúng con có trình diễn trong một buổi chiều trong môt hội trường ở Trung Tâm Kinh Đô Ánh Sáng. Dung đã tìm gặp con trong giờ giải lao và nói một câu ngắn gọn: Chúc anh đạt được ý nguyện trong việc theo học Thần Học. ( Lúc ấy con đang theo hoc Thần Học để trở nên Phó Tế Vĩnh Viễn ở Oregon.)
Mối tình với Phương Liên
Một năm sau khi Dung bỏ ra đi vào khoảng đầu năm 1967, trong khi phải đối diện với một tương lai vô định: chuẩn bị nhập ngũ con đã gặp Phương Liên. Hôm đó là ngày Tết, con đang ở chơi trong nhà anh Nguyễn Đình Toàn, Phương Liên đã đến cùng với một người bạn, cô này là thân nhân của chị Toàn. Lần gặp này đã làm cho tâm hồn con ấm lại. Phương Liên vừa tốt nghiệp Trung Học từ trường Trưng Vương và đang học Luật. Phương Liên là con nhà giầu được bố mẹ cưng chiều. Liên được lái xe riêng của nhà đưa con đi chơi. Khi con vào trường Thủ Đức, Liên đã nhớ con và lái xe đi các bãi tập để hy vọng nhìn thấy con. Con cứ tưởng mối tình này sẽ được lâu dài, thế nhưng chỉ mấy tháng sau con được tin Liên đã đi làm tại Rạch Giá, sau biến cố Tết Mậu Thân. Con không thể tưởng tượng Phương Liên con nhà giầu lại phải đi làm xa nhà. Nhất là xuống tận Rạch Giá khi tình hình an ninh không ổn đinh. Con đã mạnh bạo viết thư cho bố mẹ Liên, xin ông bà bắt Liên quay lại gia đình. Không ngờ lá thư này đã lọt vào tay Liên và Liên đã lấy cớ này để đòi chia tay với con. Lá thư chia tay của Liên đến khi con đang trong khoá 7 Sỹ Quan Quân Cảnh tại Vũng Tầu. Một lần nữa con lại bị người tình bỏ rơi. Sau này nhiều người hỏi con tại sao viết Những Bài Không Tên buồn như vậy, con chỉ trả lời ngắn gọn: vì Thất Tình.
Sau này khi gặp lại Liên thì được Liên cho biết là lúc đó Liên đã bị rơi vào một cãi bẫy tình cảm của con người sau này là bố của con gái của Liên. Liên rất hối hận vì đã bỏ con dạo ấy. Gặp con Liên đã khóc như mưa – cô cũng nói là cô cũng đã từng khóc rất nhiều một mình như thế- cô bảo tình yêu cô dành cho con sẽ là vẫn còn. Liên cũng cho con biết sở dĩ Liên đi làm ở Rạch Giá dạo đó vì Liên muốn thực hiện lý tưởng hoài bão của mình.
Liên đã tham gia hoạt động tình báo.

Sau bao nhiêu năm bây giờ nhìn lại con thấy rằng nhờ những cuộc tình không trọn vẹn, nhờ cuộc sống gia đình không yên vui cho nên con mới sáng tác được những Tình Ca cho đời thưởng thức. Nhờ không còn tin vào những con người không chung thuỷ, không giữ lời, con đã đặt hết cả Niềm Tin và Chúa.
Nhập ngũ
Nhập học khoá 25 Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Đức vào tháng 4 năm 1967, đến tháng 11 năm 1967 gần hết khoá học con cũng chưa biết tương lai mình sẽ về đâu. Cuối khoá có nhiều anh em đã biết trước mình sẽ được về những ngành chuyên môn có chữ THỌ to tướng ( không phải ra chiến trường) như Quân Cụ, Quân Nhu, Hành Chánh Tài Chánh. Có những anh hào hứng chọn ngành chiến đấu như Nhảy Dù, Thiết Giáp. Con cũng muốn đi theo các anh nhóm sau này. Được biết sáng hôm ấy binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ nhận ứng viên, con theo nhóm lên trình diện ở phòng học đã được chỉ định. Hôm đó được biết sẽ nhận 15 Sỹ Quan, con đứng ở hàng thứ 16. Con tin rằng thể nào trong số 15 anh đầu tiên sẽ có anh bị rớt và chắc là sẽ đến con. Thế nhưng Hội Đồng Lựa Chọn gồm 4 vị Sỹ Quan Thuỷ Quân Lục Chiến trong đó có một Bác Sỹ đã dừng lại sau khi phỏng vấn 15 anh. Con đã chạy vội lại Bác Sỹ lúc đó đang đứng hút thuốc và xin Bác Sỹ tiếp tục khám con. Con tin tưởng con cao lớn chắc chắn sẽ được chọn. Con đã được chọn làm Sinh Viên Sỹ Quan Đại Diện Khóa, cầm kiếm chào trong Đội Quốc Và Quân Kỳ của khóa 25. Đại Uý Bác Sỹ đã không thèm để ý đến lời yêu cầu của con và chỉ nói đại ý cuộc lựa chọn đã xong.
Con đã lủi thủi về và thầm nghĩ thôi hãy để đời trôi theo số phận.
Ít ngày sau đó con có tên trong danh sách những Sinh Viên Sỹ Quan được gọi lên trình diện trong buổi lựa chọn Sỹ Quan Quân Cảnh. Binh Chủng Quân Cảnh đã lựa chọn theo chiều cao cũng như học vấn thuôc ngành Luật. Con có đầu đủ hai tiêu chuẩn này.
Buổi sáng hôm đó khoảng 50 Sinh Viên Sỹ Quan được gọi lên trình diện.
Chúng con được lệnh ngồi yên tại chỗ của mình. Sẽ có cuộc tuyển chọn đầu tiên bằng cách được vỗ vai. Nếu ai được vỗ vai sẽ được chọn vào vòng sau.
Con còn nhớ rõ vị Sỹ Quan cao cấp của Quân Cảnh hôm đó là Thiếu Tá Thiệt. Ông đã đi từ dưới phòng lên ( chứng tỏ không chọn theo quen biết mà lựa chọn theo tướng ngồi). Con là một trong số người được vỗ vai.
Khoảng 25 người đưọc vỗ vai và được bước vào vòng lựa chọn thứ hai. Mỗi người sẽ bước lên trước Hội Đồng Tuyển Chọn ( gồm 4 Sỹ Quan trong đó có Thiếu Tá Thiệt làm Chủ Tịch) chào kính và trình diện Tên, Số Quân..
Cuối cùng con lọt vào danh sách 20 người được chọn. Vì con cao nhất nên được đứng số 1 trong danh sách.
Sau khi mãn khóa 7 Sỹ Quan Quân Cảnh tại Vũng Tầu con đã được cử về Tiểu Đòan 5 Quân Cảnh trong một cuộc bắt thăm đi đơn vị thật công bằng tại Bộ Chỉ Huy Quân Cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng con 30 Sỹ Quan vừa mãn khoá, trong số có 2 Trung Uý còn lại đều là Chuẩn Uý. Trong số 30 thăm có 15 thăm đi Phú Quốc coi tù binh, còn lại là các Tiểu Đoàn Quân Cảnh. Người ta cứ nghe tên Tiểu Đòan là biết Tiểu Đòan ấy phục vụ ở Vùng Chiến Thuật nào: Tiểu Đoàn 1 Quân Cảnh ở Quân Đoàn 1, Vùng 1. Tiểu Đoàn 2 ở Quân Đoàn 2, Vùng 2. Sỹ Quan Thủ Khoa được tự chọn Đơn Vị, sau đó lần lượt lên rút thăm theo thứ tự điểm số kỳ tốt nghiệp. Con ở hạng Thứ Sáu, cho nên có 4 vị lên rút thăm trước con: tất cả đều trúng thăm đi Trại Giam ở Phú Quốc. Đến phiên con, con nhớ rõ đã dùng tay trái để rút thăm. Con đã rút trúng chữ Tiểu Đoàn 5 Quân Cảnh. Con ngạc nhiên không biết Tiểu Đoàn 5 ở đâu. Sau đó hỏi ra mới biết Tiểu Đoàn 5 là Tiểu Đoàn Trừ Bị có Doanh Trại tại Saigon, đường Trần Quốc Toản, gần Chợ Cá hồi đó và ngay bên cạnh Bệnh Viện Nhi Đồng. Phục vụ ở đây chưa được 6 tháng thì con được biệt phái trở lại làm việc ở Đài Phát Thanh Saigon. Năm 1963 con đã hoạt động trong Tổng Hội SinhViên, phụ trách các chương trình Phát Thanh của Sinh Viên trên Đài Saigon, nhờ đó quen biết với Ông Nguyễn Ngọc Linh, Giám Đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh hồi đó và Ông Nguyễn Ngọc Linh dã tuyển con vào làm Phóng Viên sau đó chuyển sang Biên Tập Viện, làm chung với anh Nguyễn Đình Toàn.
Ngày được trở lại Đài Phát Thanh, được trút bỏ bộ quân phục con cảm giác như được bay bổng lên. Trong suốt những tháng ở Quân Trường trong không khí của huấn nhục, của tuân lệnh cấp trên, nhất là trong Quân Cảnh lúc nào cũng phải chú ý đến quân phục ngay thẳng, giầy sáng bóng, chào kính cấp trên khiến con có cảm giác như mình đã bị đánh mất cá tình nghệ sỹ.
Tuy vậy trong thời gian 6 tháng ở Tiểu Đoàn 5 sau biến cố Tết Mâu Thân đã cho con một kỷ niệm đẹp: Hoàn tất Bài Không Tên số 2.
Những Bài Không Tên
Như đã kể ở trên năm 1965 nhờ cộng tác với anh Nguyễn Đình Toàn trong việc cùng sáng tác Bài Tình Khúc Thứ Nhất, rồi từ đó cùng thực hiện chương trình Nhạc Chủ Đề con đã được nhiều người biết đến. Nhưng không biết từ đâu đã có tin đồn cho rằng sự có chút tiếng tăm đó hoàn toàn là nhờ anh Nguyễn Đình Toàn chứ con chẳng có tài năng gì cả. Thêm vào đó khi con trở lại Saigon, phục vụ tại Tiểu Đoàn 5, con đã không được mời cộng tác trở lại với chương trình Nhạc Chủ Đề nữa mặc dù con đã là một trong 2 người khai sinh ra nó. Con có cảm tưởng như sự nghiệp mình xây dựng lên bị cướp đi ngay trước mặt mình. Điều này con đã rất buồn, cảm thấy như mình bị loại bỏ. Cho đến lúc đó con đã bị 2 người tình rời xa, rồi bây giờ đến người bạn có thể coi như người anh cũng ruồng rẫy con nữa. Con đã bị đến 3 người con hết lòng yêu thương từ bỏ. Còn nỗi đau nào hơn?. Trong tâm trạng đó con đã quyết tâm phải trở lại sinh hoạt văn nghệ, và phải nổi tiếng với tài năng của mình. Trong Cư Xá Sỹ Quan Tiểu Đoàn 5, con đã chọn một khúc nhạc hay nhất con đã sáng tác từ năm 1962 khi con học Lớp Đệ Nất Trường Hưng đạo, lúc đó con đặt tên là Sóng Tương Giang, con phổ lời mới vào khúc nhạc đó và đặt là Bài Không Tên số 2. Dựa vào suy nghĩ cho rằng dù Phương Liên đã bỏ con đi lấy chồng nhưng Liên vẫn yêu con cho nên con đã viết: Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều , trời không cho được mấy, đến khi lấy chồng chỉ còn mối tình mang theo.”
Quả thật sau này gặp lại Liên thú nhận là đã và vẫn còn yêu con.
Con đã quyết định cần phải nổi tiếng thật mau cho nên đã theo lời dạy của một Giáo Sư con đã được học là : muốn thành công phải có điều độc đáo của riêng mình. Con đã không đặt tên cho nhạc phẩm mới Bài Không Tên Số 2.
May mắn thay đúng như sự mong ước của con, Bài Không Tên Số 2 đã nổi tiếng nhanh chóng. Tiếp đó là Những Bài Không Tên lần lượt ra đời.
Người Vợ Đầu Tiên: Nguyễn Thị Thoa
Trong nỗi thất vọng của cả 3 người mình yêu thương nhất từ bỏ mình con đã gặp Nguyễn Thị Thoa năm 1968 khi con phục vụ tại Tiểu Đòan 5 Quân Cảnh. Thoa khởi đầu đã cho con niềm an ủi và con đã vội vã quyết định lập gia đình với Thoa. Hai người tình cũ học giỏi, con nhà khá giả đều đã bỏ con nên con đã nghĩ rằng với Thoa, con nhà nghèo, học không cao và cũng không được có nhan sắc như hai người tình cũ, sẽ đem lại cho con hạnh phúc. Rủi thay trong cuộc sống vợ chồng vì những truyện lặt vặt con đã thật đau khổ. Đến nỗi sau nằy 1975 khi đi tù cải tạo đã có người thân của con cho rằng thà con đi tù như vậy còn hơn cuộc sống gia đình.
Khởi Đầu Cuộc Sống Tâm Linh
Cuộc sống gia đình không được hạnh phúc đã khiến con hăng hái hơn nữa trong việc đi tìm đường giải thoát về mặt tâm linh. Trước đó con đọc rất nhiều sách, từ sách truyện đến sách triết học và những sách huyền bí về thượng giới và đời sau. Có thời gian con đã vào một ngôi chùa ở mấy ngày, một phần để tránh cuộc sống đau khổ ở gia đình.
Qua kinh nghiệm cá nhân của mình, qua quan sát cuộc sống của những người thân, con thấy rằng gia đình hạnh phúc là một may mắn hay nói đúng hơn là quà tặng của Thiên Chúa. Người ta không thể biết cuộc sống sau này có hạnh phúc hay không, chỉ cho đến khi sống với nhau một thời gian rồi mới nhận ra thôi. Nếu cuộc sống chung trở nên một địa ngục, nếu hai con người sống cùng một mái nhà cứ cắn xé nhau thì có nên cứu gỡ họ ra không?.
Những Ân Sủng và Sự Che Chở Từ Thiên Chúa
Trong cuộc đời của con có những lúc thật may mắn hay nói đúng hơn chính Chúa đã ban cho con, như việc con được lựa chọn vào Quân Cảnh, được chọn đơn vị là Saigon để rồi từ đó con được trở lại cuộc đời nghệ sỹ. Ơn Trên cũng đã giữ gìn con trước những nguy hiểm, những cạm bẫy của cuộc đời. Đây là việc điển hình:
Khi con trở lại Đài Phát Thanh tôi đã ghi tên học Luật trở lại và trong suốt 4 năm từ năm 1969, 1970, 1971, 1972 con đã liên tục học hết 4 năm Luật và tốt nghiệp Cử Nhân Ban Công Pháp năm 1972. Trong suốt 4 năm đó con cũng đi đóng 2 phim: Đất Khổ với Trịnh Công Sơn tại Huế năm 1969 và Chiếc Bóng Bên Đường với Kiều Chinh, Kim Cương, Thành Được năm 1970. Phát hành 2 Tập nhạc: Tình Khúc Vũ Thành An và Những Bài Không Tên. Có thể nói là rất thành công trên con đường nghệ thuật. Không biết có phải vì thế không mà con bị nhiều người ghét trong đó có cấp chỉ huy của con. Con xin tạm dấu tên vị Chỉ Huy này mà chỉ viết ở đây chữ Chỉ Huy để nói về vị ấy.
Con tốt nghiệp Cử Nhân Luật năm 1972 thì năm 1973 ông Hoàng Đức Nhã Bí Thư Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu được cử làm Tổng Ủy Trưởng Phủ Tổng Uỷ Dân Vận ( Tổng Trưởng Bộ Thông Tin đổi tên). Ông Nhã muốn thay đổi các cấp chỉ huy ngành Thông Tin nên đã mời các nhân vật mới về làm cấp chỉ huy cao cấp trong Phủ Tổng Uỷ trong đó có ông Lê Đình Điểu làm Cục Phó Cục Thông Tin Quốc Nội ( không có Cục Trưởng). Ông Lê Đình Điểu có trách nhiệm tất cả các Ty Thông Tin Việt Nam Cộng Hoà. Con được thân với anh Lê Đình Điểu kể từ khi có hoạt động trong Tổng Hội SinhViên Saigon năm 1963. Ông Lê Đình Điểu đã giới thiệu con với ông Hoàng Đức Nhã. Con đã qua kỳ thi tuyển Chuyên Viên Dân Vận gồm những người có tối thiểu bằng Cử Nhân và đang chờ ngày được bổ nhiệm vào nhiệm sở. Lúc đó con đang làm Biên Tập Viên phòng Giáo Dục Đại Chúng Đài Saigon thì ông Chỉ Huy gọi con lên văn phòng ra lệnh cho con là ngay chiều hôm đó phải mặc quân phục vào trình diện đi làm phóng sự tại Tiền Đồn Tống Lê Chân. Con lúc đó trên nguyên tắc là Trung Uý Biệt Phái làm việc tại Đài Phát Thanh. Tống Lê Chân là một tiền đồn lúc đó hàng ngày bị cả ngàn đạn pháo kích từ địch quân. Nơi này là chốn cực kỳ nguy hiểm thế mà ông Chỉ Huy lại muốn đưa con vào nơi đó. Con đã từ giã người vợ lúc đó đang có bầu tháng thứ 9 chờ ngày sanh. Con biết ông Chỉ Huy vì ghét con cho nên muốn đưa con vào chỗ chết cho dù ông thừa biết là chỉ trong ít ngày nữa con cũng sẽ là một viên chức cao cấp trong Bộ gần giống như ông. Đúng theo lệnh con mặc quân phục , đeo lon Trung Uý vào Đài. Mọi người trong Đài đều lấy làm lạ tại sao hôm nay con lại mặc quân phục. Con đã trả lời là theo lệnh ông Chỉ Huy đi Tống Lê Chân. Lúc bấy giờ ông Chủ Sự Phòng Phóng Viên đã nói với con: Việc đi làm Phóng Sự chiến trường là do Phóng Viên Chiến Trường của Phòng Phóng viên không phải là của con. Ông Chủ Sự bảo con cứ về ông sẽ trình lại ông Chỉ Huy. Có lẽ ông Chỉ Huy nếu cứ khăng khăng cử con đi sẽ lộ rõ tính độc ác của ông nên sau đó không nói gì nữa.

Viên Chức Bộ Thông Tin
Ít ngày sau, khi cháu Vũ Thành Thái An được đưa về nhà từ Bảo Sanh Viện Hùng Vương vào ngày 10 tháng 5 năm 1973 thì con đi nhận chức Trưởng Cơ Sở Dân Vân Tỉnh Gia Định ( Trưởng Ty Thông Tin đổi tên).

Cho dù trước đó con cũng được đề cử tạm một thời gian mấy tháng làm Chủ Sự Phòng Giáo Dục Đại Chúng – Phòng trách nhiệm về những chương trình có tính các Giáo Dục để hỗ trợ cho các chương trình Tin Tức Thời Sự- con cũng không khỏi bỡ ngỡ trong những ngày đầu làm Trưởng Cơ Sở. Toàn thể Cơ quan gồm 12 Cơ Sở Quận ( Chi Thông Tin đổi tên) và Văn Phòng Tỉnh ở Đường Lê Văn Duyệt, ngay cạnh Trường Nữ Trung Học Lê Văn Duyệt.
Tổng cộng cán bộ nhân viên khoảng 500 người. Con đã cắt cử ngay một vị làm việc lâu năm trong Ty làm nhiệm vụ Phụ Tá giúp đỡ con. Ông tên là Đào Mệnh Phổ. Hầu như ông đã túc trực đêm ngày tại Cơ Sở, thỉnh thoảng ông mới xin về thăm nhà ở Thủ Đức một buổi chiều. Con chưa thấy một công chức nào mẫn cán như ông. Ông còn làm việc hơn là một sỹ quan nữa. Chính nhờ sự giúp đỡ của ông Phụ Tá và một số ông khác trong Cơ Sở mà con có thể điều hành tốt đẹp công việc. Con đã đi tu nghiệp ngành phát thanh tại Hoà Lan ( thành phố Hilversum ) trong 4 tháng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1974. Trở về nước con tiếp tục làm Trưởng Cơ Sở Dân Vận CHiêu Hồi Gia Định( lúc đó 2 bộ Dân Vận và Chiêu Hồi sát nhập lại làm một).
Đến khoảng tháng 10 năm 1974 thì con được thuyên chuyển về Bộ Dân Vận Chiêu Hồi giữ nhiệm vụ Văn Hóa Vụ Trưởng, chịu trách nhiệm các hoạt động Văn Hoá của VNCH. Đây là một cơ quan hoàn toàn mới, cho nên con được sắp xếp vào văn phòng cùng với 2 vị đang bị nghỉ việc ( lúc đó anh em cứ nói đùa là ngồi chơi xơi nước). Một vị trước là Tổng Giám Đốc Thông Tin thời ông Bộ Trưởng Tiền Nhiệm và anh Lê Đình Điểu nguyên Cục Phó Cục Thông Tin Quốc Nội. Lúc này anh Điểu đã không còn được ông Hoàng Đức Nhã tín nhiệm nữa nên về đây ngôi chơi xơi nước. Thực ra anh Điểu đến văn phòng rất ít , chỉ có ông nguyên Tổng Giám Đốc Thông Tin thì đi làm nghiêm chỉnh ngày 8 tiếng. Thực ra ông đến cho có bổn phận, ông suốt ngày ngồi học. Ông này sau khi ông Hoàng Đức Nhã được ông Hồ Văn Châm thay thế chức Bộ Trưởng thì lại trở thành Tổng Giám Đốc Thông Tin!. Con kể chi thiết vậy để rồi người đọc sẽ có thể hiểu tâm trạng của con phần nào lúc đó.
Đang làm Trưởng Cơ Sở Gia Định có đông nhân viên, công việc bận rộn hàng ngày bây giờ về Trung Ương cho dù chức vụ có cao hơn nhưng văn phòng chưa có, nhân viên cũng chưa mà lại ngồi chung với 2 vị bị thất sủng con cũng hơi buồn cảm tưởng như mình cũng đang bị loại bỏ. Công việc tổ chức văn phòng và tuyển dụng nhân viên cho Văn Hoá Vụ đang bắt đầu thì một buổi chiều kia vào cuối tháng 11 năm 1974 ông Hoàng Đức Nhã gọi con vào và trao nhiệm vụ Trưởng Khối Báo Chí ( Chức vụ Giám Đốc coi Nha Báo Chí: Kiểm duyệt Nhật Báo, Tuần Báo, Sách, Nhạc, Phim Ảnh v..v..
Tình hình chính trị hồi đó rất sôi động ( chỉ mấy tháng nữa đã đến ngày 30 tháng 4 -1975 rồi) cơ quan Nha Báo Chí là nóng bỏng nhất, ông Trưởng Khối ( Giám Đốc) cũ chắc bị nhiều vấn đề rắc rối cho nên ông Nhã muốn thay con là khuôn mặt mới xuống để làm mới lại cơ quan này.
Trong lúc đó hình như cũng có biến chuyển quan trọng trong Hội Đồng Nội Các của Tổng Thống Thiệu. Khi con được giao Văn Hoá Vụ thì ông Chánh Văn Phòng của Ông Nhã là ông Chu Bá Tước cứ hỏi đi hỏi lại mãi với con là có phải thật con được giao Văn Hoá Vụ không? Hồi đó có tin đồn là có thể ông Nhã sẽ được tín nhiệm vào chức vụ Thủ Tướng. Chỉ ít lâu sau đó con lại nghe ông Nhã gặp khó khăn với các ông Tướng.
Khi con chưa ngôi vào chức Giám Đốc Báo Chí thì đã có nhiều người đến vận động riêng tại nhà.
Tưởng rằng xuống Nha Báo Chí thì sẽ được bàn giao nhưng xuống đến nơi thì sau khi được dẫn đi thăm các văn phòng thì con được đưa vào một phòng họp và nói là hãy chờ đợi ở đây. Phòng họp thì quá rộng mà chỉ có con một mình. Sáng 8 giờ đến, trưa đi ăn, chiều 6 giờ cắp ô ra về ( dạo ấy trời mưa rất lớn).
Qua gần 10 ngày không thấy lệnh cho bàn giao, con hỏi lại ông Chánh Văn Phòng thì ông nói hãy trở lại văn phòng Bộ chờ đợi tiếp!
Trở lại Văn Phòng Bộ là một giải thoát cho con vì trong suốt hơn một tuần ở Nha Báo Chí ( nơi trước đây là Văn Phòng Bộ Chiêu Hồi) con rất ngượng mỗi khi gặp ông Phụ Tá Tổng Trưởng có văn phòng ở đây và nhất là các nhân viên Nha Báo Chí. Trước đó ai cũng biết là con sẽ chuẩn bị làm cấp chỉ huy của họ.
Trong tâm trạng não nề con trở lại Văn Phòng Bộ ngồi chơi xơi nước với 2 vị cựu công chức cao cấp khác.

Chỉ sau đó hơn một tháng ông Hoàng Đức Nhã đã bị mất chức Tổng Trưởng. ( Con hơi ngạc nhiên, vì mới đây thôi thì ông được Tổng Thống cất nhắc, đang làm việc thật tốt thế mà tại sao bị thay thế? Chắc chắn là có nhiều bí ẩn chính trị con không được biết) Có lẽ vì ông biết trước ông sẽ bị thay thế trong thời gian con chuẩn bị bàn giao chức Trưởng Khối Báo Chí cho nên ông nghï rằng cho con bàn giao cũng vô ích vì ông Bộ Trưởng mới cũng sẽ thay con mà thôi. Quả thật ông Tân Bộ Trưởng mới về khoảng tháng 2 năm 1975 đã cử ngay Giám Đốc Báo Chí mới vào tháng 3 năm 1975 và đến tháng 6 năm 1975 con gặp ông ta trong trại Cải Tạo Long Thành!
Bên cạnh tâm trạng não nề khi gần như bị mất chức con lại còn nỗi buồn lớn lao vì gia đình không được hạnh phúc.
Một ngày kia khoảng tháng 12 năm 1974 Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đến thăm Bộ Dân Vận Chiêu Hồi. Con đứng trên văn phòng nhìn xuống vị Vua đang ở dưới. Con tự hỏi vị Vua này rồi sau sẽ ra sao? Từ trên cửa số văn phòng nhìn xuống dưới, qua vách tường thẳng đừng, con có cảm tưởng như mình là con thạch sùng bò trên vách dựng này, và câu đầu tiên của bài Đời Đá Vàng được sáng tác
Ta lần mò leo mãi không qua được vách sầu.
Lúc đó con 31 tuổi, đang được hưởng những điều nhiều người mơ ước: Về tình, thì đã có nhiều mối tình, nhưng không có mối tình nào đem lại hạnh phúc. Về tiền, thì cũng đã rủng rỉnh. Năm 1965 khi mà một lượng vàng giá 500 đồng thì con đã làm lương tổng cộng gần 10 ngàn ( Gồm lương Phóng Viên, Nhuận Bút Trưởng Chương Trình Nhạc Chủ Đề, Lương dạy học trường Hưng Đạo, và nhừng khoản thu nhuận bút khác, có nghĩa là nếu đem mua vàng thì có thể mua dược 20 lượng một tháng). Năm 1969 chỉ đóng phim mấy ngày được trả thù lao 100 ngàn. Về danh vọng: đã có một chút danh vọng từ những khi mới 21 tuổi qua bài Tình Khúc Thứ Nhất, qua chương trình Nhạc Chủ Đề, qua Những Bài Không Tên. Về quyền lực: cũng được nếm đôi chút, cũng có nhân viên, cũng có tài xế, cũng có người trọng vọng. Cuối cùng, không điều nào đem hạnh phúc mà chỉ đem đến nỗi sầu.
Tương đối thành công như vậy nhưng khát vọng hình như chưa có gì: ước vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nào, suốt đời còn ước ao, khát vọng còn cấu cào.
Đã nửa cuộc đời, đã đi những bước dài thành công thế mà: Ô hay tại sao ta sống chốn này? quay cuồng mãi hoài, có gì vui?.
Ta lần mò leo mãi, không qua được vách sầu. Ta tìm một tiếng yêu, thấy toàn là sầu đau. Ước vọng ngày thơ ấu, chưa xin được chút nào. Suốt đời còn ước ao, khát vọng còn cấu cào.
Ôi thôi, đời ta phung phí trong cơn buồn phiền, ta xin tháng ngày rồi bình yên.
Ô hay tại sao ta sống chốn này quay cuồng mãi hoài, có gì vui?.
Bài hát đã ngừng ở đây không viết tiếp được. ( đến năm 1993 con đã hoàn tất bài hát khi định cư ở Portland Oregon- sẽ kể tiếp sau ).

Ông Bộ Trưởng mới về, lại có sự thay đổi nhân sự lớn. Hầu như tất cả các công chức bị ông Hoàng Đức Nhã thay thế đã được phục chức. Cụ thể là ông Trưởng Ty Thông Tin Gia Định con về thay thế năm 1973 đã lại được phục chức. Ông Tổng Giám Đốc Thông Tin khi ông Nhã còn thại chức thì ngồi chơi xơi nước , nay ông Tân Bộ Trưởng về lại được giữ lại chức vụ cũ.
Con ở cái thế chuẩn bị mất tất cả vì là thuộc thành phần được ông Nhã tin dùng.
Có thể trong thời gian con ngồi chung văn phòng với ông Tổng Giám Đốc Thông Tin ông đã có cảm tình với con cho nên khi ông được phục chức ông đã giới thiệu con với ông Tân Tổng Trưởng. Con xin trở lại đơn vị gốc của con là Đài Phát Thanh Saigon vào tháng 2 năm 1973. Không những ông nhận lời mà còn cử con làm Phó Giám Đốc Chương Trình Thời Sự, kiêm Chánh Sở Chương Trình , kiêm Chánh Sở Kế Hoạch. Với chức vụ này con có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động thực hiện chương trình hàng ngày của Đài Phát Thanh Saigon.
Vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975 Saigon rất lộn xộn, đặc biệt là việc di tản ra nước ngoài. Con cũng đã từng đi xem những đoàn người lên xe buýt vào Tân Sơn Nhất lên máy bay đi Mỹ. Đây là những người trực tiếp làm việc trong cơ quan của Mỹ, được người Mỹ ưu tiên bốc đi trước. Trong số những người này có các anh chị em của Đài Tự Do. Đài Phát Thanh Saigon chúng con không trực tiếp làm việc với người My cho nên không có trong danh sách này.
Cuộc sống của chúng con quả là vô định.
Gần cuối tháng 4, nhân viên tại Đài Phát Thanh cũng đi làm thưa dần. Ngày 27 đã không thấy ông Hệ Thống Trưởng ( Giám Đốc Đài ) đi làm nữa. Người người xôn xao tìm đường chạy, trong đó có cả vợ con bồng cháu Thái An đi trốn. Tối hôm đó con ngủ ở nhà mở radio lên không nghe tiếng xướng ngôn viên thường lệ đọc mà lại có giọng của một nhân viên kỹ thuật giới thiệu chương trình. Con đã quyết định sáng hôm sau phải đi làm không thể bỏ Đài được. Một nhân viên nhỏ trong Đài còn làm việc huống chi con là cấp chỉ huy của anh ấy?.

Sáng sớm ngày 28, xe Honda của con bị xẹp lốp, con mang ra vá rồi đi về nhà Bố con ở đường Trần Quý Cáp lấy chiếc xe đạp, đạp vào Đài. Con nghĩ rằng thể nào Đài cũng có truyện, đi xe Honda sẽ bị mất nên con đi xe đạp.
Khi con vào Đài thì chỉ thấy còn chừng 10 nhân viên làm việc. Chiều hôm ấy đã có mấy quả trọng pháo rớt vào Đài.

Tối ngày 28 vẫn có một vài Nữ Xướng Ngôn Viên trực lại trong Đài.

Sáng ngày 29 khi đi ăn sáng trong tiệm phở gần đài con nghe tin đồn quân địch đã tới gần Cầu Xa Lộ. Con biết thời gian kết thúc đã tới gần, trở về Đài con cho một vài nhân viên không cần thiết về nhà, chỉ yêu cầu 3 nhân viên kỹ thuật ở lại cùng làm việc với con. ( Bây giờ con chỉ còn nhớ tên một trong số 3 người đó: anh Hồ Ổn).

Chiều 29 ông Nguyễn Văn Huyền Phó Tổng Thống còn đến Đài đọc lời kêu gọi phiá Bên Kia thương lượng. Cùng buổi chiều ấy ông Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đọc bài mời lính Mỹ ra khỏi nước VNCH!

Sáng sớm 30 tháng 4, con được tin có thể Tổng Thống Dương Văn Minh sẽ đầu hàng. Con nghĩ trong đầu: nếu quả như vậy thì phải phát thanh bài tuyên bố này càng sớm càng tốt để không còn chém giết nhau nữa. Con không muốn người nào bị chết nữa trong cuộc chiến tàn khốc này. Trong vị trí của con vào giấy phút quan trọng của lịch sử này là chỉ còn cách đóng góp công sức mình như thế. Con là cấp chỉ huy duy nhất còn lại trong Đài lúc đó và đã yêu cầu 3 chuyên viên hãy cùng con làm việc đến giây phút cuối cùng.

Khoảng độ 9 giờ thì một Phóng Viên Tập Sự đã hớt hải chạy tới Đài đưa con cuốn băng tuyên bố của Tổng Thống Dương Văn Minh. Vì đã chuẩn bị trước cho nên con cho nhân viên kỹ thuật làm thành cuốn băng có thể tự động chạy đi chạy lại nhiều lần để tất cả mọi người có thể nghe rõ. Con chỉ mong không còn ai phải chết thêm vào giây phút cuối cùng này.

Khi con đang cùng các nhân viên kỹ thuật làm cuốn băng thì có 2 người lính mặc quân phục VNCH cùng với một vị mang một sao tự nhận là Chuẩn Tướng Hạnh, Tân Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH. Ông Hạnh đã nói với con cho ông đọc lệnh tất cả binh sỹ buông súng.
Con đã thực hiện giọng đọc của Chuẩn Tướng Hạnh ngay sau giọng đọc của Tướng Minh.

Sau khi đã đưa lên làn sóng, phát thanh nhiều lần, bảo đảm mọi người đã nghe rõ, con đã cho 3 chuyên viên kỹ thuật ra về.

Chúng con bịn rịn chia tay nhau trong nỗi bàng hoàng không biết tương lai sẽ ra sao?

Còn lại một mình, đứng trên lầu phòng phát thanh nhìn xuống khuôn viên Đài vắng ngắt con không còn suy nghĩ được gì.

Một lúc sau con chợt nghĩ, chắc chắn không lâu quân địch sẽ vào, việc gì sẽ xảy ra?. Nhỡ một viên đạn vô tình giết chết mình thì sao? Họ có nhận mình bàn giao cơ sở không hay là sẽ bắn mình chết?.

Sau cùng con nghĩ mình cứ theo lệnh, bỏ ngũ về nhà. Đã có lệnh Tổng Thống, đã có lệnh Tổng Tham Mưu Trưởng, mình tuân lệnh chứ không phải đào ngũ. Những người ra đi trước đó mới thật là đào ngũ.

Khoảng 10 giờ 10 phút sáng 30 tháng 4 con xuống nhà để xe dắt xe đạp về nhà.

Trên đường về con thấy các anh binh sỹ Nhảy Dù gác chung quanh Đài cũng xếp gọn súng ống và bỏ đi. Trơi đổ mưa như trút.

Con đã làm xong nghĩa vụ của một người lính với quốc gia dân tôc của mình. Bây giờ chỉ biết đi theo số mệnh. Theo Ơn Chúa Quan Phòng.

Hơn một tháng sau con cùng với các anh em khác đi trình diện Cải Tạo.

Mười Năm Tù Cải Tạo
Sau ngày 30 tháng 4, nhà cầm quyền mới tổ chức rầm rộ ăn mừng chiến thắng trong khi tất cả những người chiến bại chúng con trong tâm trạng lo âu của một tương lai vô định.
Sau hơn một tháng họ ra một thông cáo có nội dung: các binh sỹ trình diện học tập 3 ngày, các sỹ quan và công chức từ Phó Giám Đốc trở lên trình diện học tập cải tạo, mang theo lương thực thuốc men trong một tháng. Nhờ nội dung này nhiều người hy vọng là chỉ đi học tập một tháng thôi. Con cũng ở trong những người bám víu vào chút hy vọng đó nhưng con đã nói với người thân là đi trình diện đây không khác là đi tù thôi. Tưởng rằng chi đi trong một tháng nhưng nhiều người đã chết trong tù, nhiều người đã ở đến 17 năm!.
Những tưởng mau trở lại
Ngờ đâu người đi mãi,
Người chốn nào lỗi lầm,
Người chốn này chung thân!
Hôm sáng ngày đi trình diện con dậy sớm, chuẩn bị hành trang ra đi. Cháu Thái An lúc đó mới 2 tuổi chẵn cũng đã dậy cùng với con trong khi mẹ cháu còn ngủ ( hay đã thức?). Con ôm cháu một lần cuối rồi đi ra khép cửa lại. Hình ảnh cháu bé 2 tuối từ trong cửa sổ đư tay nhỏ xíu vẫy chào bố đi tù khiến con không bao giờ quên.

Vì là công chức từ dân sự cấp Phó Giám Đốc trở lên, con đi trình diện tại Trường Trung Học Gia Long Saigon.

Người ta nhận chúng con từng tốp 10 người một, chia ra từng Tổ. Người ta lấy người đầu danh sách chỉ định là Tổ Trưởng. Đây là khởi đầu mọi hệ lụy đau buồn sau này của con. Đáng lẽ người đứng đầu danh sách, làm Tổ Trưởng là anh Đại Tá làm việc tại Phủ Tổng Thống, nhưng người phụ trách nhận đã hoán đổi con là người thứ hai lên làm người thứ nhất vì có thể người ấy cho rằng Đại Tá Phủ Tổng Thống ác ôn hơn con!. ( Thực ra anh Đại Tá này rất hiền, Đại Tá Nguyễn Văn Quý, anh em gọi là Quý Lùn vì anh chỉ đứng cao dưới vai con).

Và như thế con làm Tổ Trưởng rồi Đội Trưởng sau này để chịu bao nhiêu là khổ lụy vì hoàn cảnh trớ trêu này. ( con đã trình bầy chi tiết trong phần Hàm Oan).
Chúng con trên 3 ngàn người gồm các viên chức Chính Phủ Trung Ương: Tổng Bộ Trưởng, Nghị Sỹ , Dân Biểu được đưa về Trại Long Thành. Hầu như tất cả mọi người đều hy vọng là chỉ sau một tháng sẽ được trở về nhà. Nhưng rồi một tháng đã trôi qua không có biến chuyển gì hết. Sau đó có một số rất ít anh em được thả về. Những anh em này hoặc có liên hệ thân thiết với chế độ mới hoặc là những chuyên viên chế độ mới đang cần như Bác Sỹ, Kỹ Sư. Việc số anh em này được thả đã là một niềm hy vọng mong manh cho các anh em còn lại. Một nhân viên trại đã nói: Về trước về sau, thế nào rồi cũng về. Vâng , anh em chúng con vẫn nuôi hy vọng thế nào rồi cũng về, nhưng bao giờ?.
Hơn một năm sau, vào tháng 11 năm 1976 con cùng một số anh em khác được đưa lên tầu Sông Hương chuyển ra Bắc. Chúng con được đưa về Trại Phú Sơn 4 ở tỉnh Thái Nguyên. Hơn một năm ở Long Thành chúng con đã bắt đầu bị đói, ra đến Phú Sơn thì lại càng đói hơn. Những ngày đầu chúng con chưa bị bắt đi lao động, quanh quẩn trong phòng giam, thơ thẩn trong sân chờ đến giờ ăn, để rồi được chia nhau mỗi người một chén cơm và nước muối. Ngồi trong sân nhìn ra hàng rào bao quanh con nhìn thấy những miếng đất đỏ được xới lên trông rất ngon lành. Con đã ước ao những miếng đất ấy là miếng bánh để ăn cho no bụng. Thế là bắt đầu của mười năm luôn đói, luôn thèm ăn.
Sau vài tuần ổn định, chúng con bắt đầu đi lao động. Con ở trong đội nông nghiệp, đi trồng khoai trồng sắn, cũng đi trồng lúa. Mùa đông đất bắc lạnh thấu xương, sáng sớm đi chân đất lội xuống ruộng, bụng trống. Con đã gầy lại càng gầy hơn. Trước khi đi tù con cũng đã không được khoẻ lắm. Hồi còn đi học trung học con đã bị bệnh đau bụng đi ngoài, chữa mãi không khỏi. Vì ăn không được cho nên con chỉ có chưa tới 50 kg trong khi con cao đến một thước tám ( 1m80). Những người thân của con đã nghĩ rằng con không thể nào chịu đựng lâu dài với điều kiện khổ cực trong trại cải tạo. Con cũng biết thế nên đã chuẩn bị tinh thần để ra đi.
Sau hơn 3 năm ở Phú Sơn 4, Bắc Thái, chúng con bị chuyển về trại Thanh Phong K2 ở Thanh Hoá, gần biên giới Lào. Tới đây mới thật là ở đáy cùng xã hội. Chúng con sống trong điều kiện của thời trung cổ. Về tới đây con được biết là người ta dự tính sẽ giam chúng con chung thân ở nơi này. Có thể người ta sẽ đưa gia đình của chúng con tới đây nữa.
Trước khi về Thanh Phong , lúc còn ở Phú Sơn 4 con đã được thân nhân của anh em khi vào thăm cho biết là vợ con đã có bạn ở bên ngoài. Con buồn và thất vọng. Con hiểu thân phận của con, không biết bao giờ về, có về đi chăng nữa biết làm gì để nuôi vợ nuôi con?. Trong thâm tâm con cầu mong vợ con tìm được người đàng hoàng để chính thức gửi gấm tấm thân.
Về tới trại Thanh Phong con càng buồn và thất vọng nhiều hơn. Thế là mình sẽ bị chôn thân ở chốn này.
Những ngày ở Thanh Hoá nhớ về em xứ xa, khói chiều vương mái nhà, nỗi buồn mênh mang quá.
Có phải đời như thế, hay là ta đã mê? đôi bàn chân ê chề bao giờ quay bước về?
Ôi dòng nước mắt thuỷ chung có còn rớt xuống hay không? sông đời nước đục hay trong, ta đâu ngờ, ta đâu ngờ!
Những ngày ở Thanh Hóa nước lạnh đến buốt da, sáng chiều đi rồi về, bầu trời sao não nề!.
Ôi đời sống với buồn vui có còn tiếp nối hay thôi, sao đời cứ lặng nề trôi em đâu rồi em đâu rồi?.
Những ngày ở Thanh Hoá, gió Lào đốt cháy da, héo người nơi xứ lạ, não nuột nỗi nhớ nhà.

Con buồn cho thân phận mình bị bỏ rơi nhưng con cũng thông cảm cho hoàn cảnh của vợ con yếu đuối trong một xã hội đầy khó khăn:

Những ngày anh đi khỏi đời em buồn tóc rối, chờ anh chờ vời vợi vạt áo mầu tả tơi.
Những tưởng mau trở lại, ngờ đâu người đi mãi, người chốn này lỗi lầm người chốn nào tình chung.
Kỷ niệm xưa em giẫm lên rồi, tìm cuộc vui đẫm ướt đôi môi mặc người yêu em vẫn chơi vơi tìm sống.
Cười lên em năm tháng không đợi, đừng ngại chi son phấn tô môi , dù ra sao anh vẫn thương em suốt đời.
Suối thời gian cuồn cuộn, thuyền em giờ xoay hướng, còn dăm hơi tình muộn, thở khói nồng trầm hương.
Chúc người đi nghìn dặm còn nét cười tươi thắm. Gửi thương lời cầu nguyện về cuối đời bình yên.

Con đã viết ở câu thứ hai bài trên: Những tưởng mau trở lại ngờ đâu người đi mãi. Người chốn này lỗi lầm, người chốn nào chung thân. Con đã hát cho một anh bạn cũng tên là An ở Thanh Phong, anh cũng bị ruồng bỏ như con, anh đã nói: không nên dùng chữ CHUNG THÂN vì có có thể vận vào người. Cho dù mình biết là có thể bị tù chung thân nhưng đừng nên viết ra, và con đã đổi chữ CHUNG THÂN thành chữ TÌNH CHUNG.
Sau này con mới được biết rằng rất nhiều gia đình đi cải tạo chúng con đều bị tan nát. Những người vợ của chúng con đã trở thành vợ của người khác, thậm chí vợ của ngững người chiến thắng. Có nhục nhã nào bằng!
Những ngày ở Thanh Phong con đã thất vọng thật sự và sức khoẻ cũng xuống rất nhiều. Có một lần đi lao động con đã run lên vì đói. Con đã phải ngội bệt xuống một lúc lâu mới đứng dậy được.
Một hôm đi vào rừng khiêng cây gỗ, con một đầu, anh bạn một đầu. Anh bạn bất chợt buông để đầu cây của anh rớt xuống. Đầu cây bên này có một nhánh nhô ra đã đập vào đầu con. Con quỵ xuống choáng váng. Được đưa về phòng giam nằm, sau hơn một tháng con mới hồi phục được.
Sáu tháng sau khi chuyển về Thanh Phong, một buổi sáng kia chỉ một mình con được gọi tên lên chiếc xe tải đem theo tất cả tư trang. Anh em ai cũng tưởng con được tha về nhà.
Chuyển tới trại Hà Tây con mới được biết rằng: vì nhu cầu cần thành lập một Đội Văn Nghệ để trình diễn cho các phái đoàn ngoại quốc tới thăm cho nên con đã được chuyển về đây, vì con là một Nhạc Sỹ nổi tiếng ở Miền Nam khi trước. Quả thật sau đó có nhiều đoàn ngoại quốc vào thăm trại và chúng con đã được sắp xếp ăn mặc chỉnh tề để tiếp xúc với họ. Chính quyền muốn tạo cho các người ngoại quốc biết rằng chúng con được đối xử tử tế. Sau này khi chúng con được đi định cư ở Mỹ mới biết rằng lúc đó là khởi đầu cho những thương thảo giữa Việt Nam và Mỹ để đưa chúng con đi. Thế là chương trình họ định chôn sâu chúng con ở miền rừng núi đã bị huỷ bỏ và thay thế vào đấy là đưa chúng con đi ra nước ngoài. Chắc chắn là đã có sự thoả thuận về vật chất giữa hai bên về việc này.

Mười năm khổ lụy nhưng cũng có thể nói là 10 năm Hồng Ân. Nhờ rơi xuống đáy cho nên con đã đợc Thiên Chúa vực lên, được biết Chúa, được biết Đức Mẹ, đươc biết Thánh Teresa, được có anh em.
Cuộc đời con như đã được tái sinh kể từ ngày 21 tháng 3 năm 1981 ngày Lễ Thánh Giuse, ngày con được rửa tội làm con Chúa.
Đây là ngày tái khởi đầu cuộc sống mới. Cuộc sống Chứng Nhân cho Tình Yêu Thiên Chúa.
Những biến cố chính con đã kể trong bài

Tôi Được Cứu Từ Đáy Vực Sâu:

Từ khi có trí khôn tôi vẫn luôn thao thức với câu hỏi:”Mình ở cuộc đời này để làm gì?”
Những bài giảng tại học đường đã không trả lời thoả đáng.
Rồi cũng như bao người khác tôi lớn lên theo những cuốn hút thông thường.
Cuốn hút đầu tiên là tình yêu đôi lứa. Tôi đã say đắm trong các cuộc tình đến nỗi sao lãng cả việc học hành. Sau những lãng mạn lúc đầu, các cuộc tình đó đã đem lại cho tôi nhiều đau khổ.
Cuốn hút thứ hai là danh vọng. Tôi đã cố ngoi lên để tìm một chỗ đứng trong xã hội. Tôi cũng đã lên một chỗ tương đối thật đấy, nhưng tôi đa không tìm được hạnh phúc tôi mong tưởng, có khi chính vì cái hư danh ấy đôi lúc lại còn làm tôi đau đớn tận sâu thẳm trái tim.
Năm 1975, tôi đã cùng hàng triệu người khác đi cải tạo. Tôi đã khốn đốn trong các trại giam tại Bắc Việt. Một trong những khốn khổ mà tôi phải chịu là chứng mất ngủ. Đây là hậu qủa của những bất toàn về cả tâm sinh lý cộng thêm sự nghiền xay của hoàn cảnh.
Từng đêm dài tôi đã thức trắng, sức khoẻ dần dần yếu đi, không có thuốc để chữa chạy. Tình trạng này kéo dài cả năm trời, từ đầu năm 1980 đến 1981. Một buổi tối kia đa số anh em trong phòng đã say ngủ, tôi nghe hai anh nói truyệïn vơí nhau, chỉ cách chỗ toiâ nằm chừng hai thước. Tôi nghe anh Nguyễn Văn Lai nói: ” Khi nào tôi khó ngủ tôi chỉ cầu nguyện bằng cách đọc vài kinh Kính mừng là ngủ được ngay.”
Ai bị bệnh nghe nói thuốc nào hay cũng muốn thử.
Mặc dù lúc ấy chưa có đạo nhưng bài kinh Kính Mừng tôi đã biết.
Năm 17 tuổi tôi có một ngưòi bạn gái, lúc đó sự liên lạc giữa chúng tôi lànhững trang thư và những buổi hẹn hò trong sân nhà thờ. Gặp chỉ để nói với nhau đôi câu. Một hôm bàn tay rất đẹp trinh trắng của Uyên đã trao tôi trang giấy có ghi bài kinh Kính Mừng với nét chữ thật nắn nót. Uyên bảo tôi học thuộc đi , và tôi đã thuộc.
Cuối năm đó tôi thi rớt. không những gia đình tôi không cho thô đi chơi tự do nữa mà chính tôi cũng tự nhủ phải quyết chí trở lại việïc học hành. Lúc tôi gặp Uyên là tôi được ở riêng sau hi thi rắt tôi dọn về ở vói gia đình cộng thêm sụ ngăn cản của gia đình Uyên, chúng tôi đã không gặp nhau nữa. Cho đến bây giờ tôi cũng không biết Uyên ở đâu.
Uyên đã xa nhưng Kinh Kính Mừng ở lại
Nghe anh Lai nói xong, tôi nhớ tới Uyên , tôi nhẩm lại Kinh Kính Mừng. Và dêm đó tôi ngủ mật giấc say cho đến sáng.
Tôi mừng lắm, liên tiếp cả tuần sau tôi ngủ được. Tôi cảm thấy đã đưọc chữa cả bệnh mất ngủ mà còn đưọc mạnh về tâm lý nữa. Tôi đã vui và hy vọng trở lại. Hình như u ám không còn phủ lên tôi như trước.
Sau đó tôi đã ngủ được khoảng một tuần lẽ liên tiếp. Một buổi sáng thức giậy , nhìn qua cửa sổ phòng giam thấy nắng xuân vàng ấm chiếu trên luống rau cải xanh các bạn trồng ngoài sân, tự nhiên tôi nhận được con đường giải thoát đã tìm kiếm bao năm, tôi nói với bố Vũ Công Định nằm bên cạnh :
– Bố Định ơi chắc là con theo đạo Chúa qúa!
Bố Định là người ít nói. Bố chỉ cười. Bố không có đạo, tôi nhớ có hỏi bố là bố có biết ai là con cái Chúa không để con hỏi thăm, bố Định trả lời là có cụ Mân đấy. Tôi đến hỏi cụ Mân, nguyên Thượng Nghị Sỹ, lúc đó ở cùng phòng 1 trại Hà Tây với tôi. Sau đó anh em con cái Chúa đến hỏi tôi nhiệt tình lắm.
Món qùa đầu tiên sau khi tôi cầu cứu Đức Mẹ là bệnh mất ngủ đã không còn hành hạ tôi nữa. Sau đó anh em đạo Thiên Chúa đã cho tôi tình thân ái. Tôi đã được anh em cho tôi tình thương yêu mà trước đó tôi không có. Các anh đã hướng dẫn Đạo cho tôi để chờ ngày rửa tội.
Rồi đến gần ngày ấn định, tôi đã xin ngưng lại. Tôi cảm thấy chưa sẵn sàng về tâm lý, hơn nữa tôi sợ. Tôi sợ nếu cán bộ biết được sẽ ra sao đây?
Trong suốt một tháng sau đó tôi thao thức rất nhiều và tôi chắc rằng anh em cũng cầu nguyện nhiều.
Tô ngưng lại việc rửa tội, ít tiếp xúc với anh em nhưng bắt đầu sáng tác. Bài đầu tiên là bài: Cha Là Ngôi Trời Có Thật, sau đó là các bài: Mẹ Ơi Cứu Con Ra Khỏi Nơi Này, Hãy Nhìn Lên Trời Cao
Sau hơn một tháng suy gẫm tôi đã vượt qua được trở ngại tâm lý: Biết bao nhiêu người tài giỏi cuả nhân loại đã qùy gối trước Chúa Ki-Tô huống chi tôi?
Về nỗi sợ hãi Cộng Sản: Tôi còn gì nữa mà tiếc nuối. Nếu có phải vì theo Chúa mà bị kỷ luật thì phước hạnh biết bao, như khi xưa Chúa đã giảng trên núi trong Tám Mối Phúc Thật. Vậy thì nếu Cộng Sản biết toiâ theo đạo mà có cùm gông, thậm chí giam tôi mãi tôi cũng vui lòng cam chịu. Và từ đó tôi đã quyết tâm theo Chúa.Tôi đã xin anh em định lại ngày rửa tội là ngày 21 tháng 3 năm 1981. Trước ngày rửa tội toiâ đã hồi hộp như cô dâu sắp tới ngày cưới. Anh em thì thầm bàn tính sắp đặt.
Một buổi chiều kia, lúc nói truyện với một người bạn tôi đã ước ao:
-Nếu như khi dội nước xong mà đèn bật sáng thì hay biết mấy!
Ở trại Hà tây có điện, cứ chập tối thì đèn được cán bộ trực trại bật sáng lên, giờ giấc lúc sớm lúc muộn thất thường.
Buổi tối hôm đã định, khi trời còn sáng đã có tiếng kẻng nhập buồng. Khi nhập buồng xong, cán bộ khoá cửa thì trời đã nhá nhem tối. Anh em chúng tôi hẹn nhau trước, lặng lẽ chuẩn bị cho lễ rửa tội. Hai ngọn đèn dầu được thắp lên ở góc trong cùng- tầng trên- chỗ nằm liền nhau của các anh Nguyễn Vạn Hùng ( hiện cộng tác với báo Thời Luận) và anh Nguyễn Văn Độ ( Đã mất khi sang tới Hoa Kỳ ). Bác Nguyễn Văn Mân là Bõ Đỡ Đầu. Khách mời có anh Nguyễn Lý Tưởng, anh Ca Văn Dương, đạo Hòa Hảo, anh Tín đạo Tin Lành, Bác Vũ Công Định.
Buổi lễ diễn ra nghiêm trang. Hình như cả phòng đều biết, nên đã giữ yên lặng khác thường . Khi bác Nguyễn Thành Tiên vừa dội nước vừa đọc: “Tôi rửa anh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Chừng một hai giây sau thì đèn chớp hai lần rồi bật sáng hẳn! Sự việc đã xảy ra đứng như tôi ước ao.
Chúa đã tặng tôi món qùa đầu tiên để nâng đở tinh thần yếu đuối của tôi. Khi tôi kể lại ước ao nhỏ bé đã được Chúa nhậm lời thì tất cả anh em hiện diện đều ngợi khen, cảm tạ Thiên Chúa. Ngay sau đớ chúng tôi đã chia nhau mỗi người một chén chè nhỏ mà anh Nguyễn Vạn Hùng đã chuẩn bị sẵn, tôi đã hát ngay cho anh em nghe 4 bài Thánh ca tôi đã làm những ngày trước đó.
Sau khi được rửa tội tôi đã chìm đắm trong một hạnh phúc tuyệt vời không thể diễn tả được. Tôi chưa bao giờ có được niềm hân hoan đó. Trong hoàn cảnh khốn khổ, thiếu thốn nhất tôi đã được một cảm giác thật lạ lùng, khó thể nào hiểu nổi nếu không có đức tin. Tâm hồn tôi như được nâng cao lên. Sự đau khổ biến mất mà chỉ còn niềm vui.. niềm vui.. Chừng 7 ngày sau tôi trở lại bình thường.
Việc rửa tội và hát lớn lên như vậy chắc chắn là nhân viên trại biết. Tôi đã chấp nhận nhưng vẫn hồi hộp chờ chuyện gì sẽ xẩy ra. Tôi sẽ trả lời ra sao để không mang tội chối Chúa và cũng không để cớ cho bị hành tội.
Đầu tiên, sau ít ngày là nhân viên phụ trách đội gọi là “cán bộ quản giáo” gọi gặp riêng, không hỏi thẳng vấn đề, chỉ nói chuyện thông thường rồi cho về. Sau đó tôi thấy ông ta ngồi trong phòng hai ngày, chác là để viết báo cáo.
Chừng một tuần lễ sau nhân viên an ninh gọi tôi gặp tại văn phòng. Tôi được đưa vào một căn phòng tối tăm. Sau một lúc yên lăïng cán bộ an ninh trại đặt câu hỏi:
-Anh được KẾT NẠP vào đạo Công Giáo phải không?
Tôi trả lời:
-Đạo Công Giáo không phải là một đảng phái nên không có chuyện kết nạp. Chỉ có việc rửa tội thôi.
-Ai rửa tôi cho anh?
-Trong trại này không có ai là linh mục. Chỉ có linh mục mới rửa tội được thôi.
-Thế anh có tin Đạo Chúa không?
– Đó là chân lý tôi đang theo.
Nhân viên trại chỉ muốn biết ai âm mưu và lãnh đạo anh em công giáo trong trại, khi thấy tôi nói không có linh mục, và không có bằng chứng cụ thể nên sau vài câu đe dọa đã cho tôi về.
Thoát khỏi hình phạt gông cùm tôi tạ ơn Thiên Chúa, và nhất là tôi đã thoát khỏi tội chối Chúa, tôi hạnh phúc vô cùng.
Từ lúc đó tôi sáng tác nhiều bài Thánh Ca , cũng như những bài Nhân Bản kêu gọi tình người. Tôi đã cố gắng học thuộc cũng như nhờ anh em khác học thuộc để hy vọng một ngày nào được thả ra sẽ đem phổ biến rộng rãi truyền bá Đức Tin. Một trong những bạn đó là anh Bửu Uy, anh có trí nhớ rất tốt nhưng chẳng may anh đã bị tù đến 17 năm. Một khi đã sáng tác thì không thể giữ kín trong lòng được, nên tôi đã hát cho một số các bạn nghe và chắc chắn cũng bị theo dõi. Tôi đã cố gắng không để lại một dấu vết gì để chó thể làm bằng chứng cho Cộng Sản buộc tội. Tất cả những bài hát đã được giữ trong tim óc chúng tôi.
Một hôm nhân viên Cộng Sản tên Tân là “cán bộ quản giáo” đội Văn Nghệ nơi tôi ở ghé tai tôi nói nhỏ:
-Anh sáng tác Thánh Ca phải không? Coi chừng đem dấu ngay đi, cán bộ an ninh biết là cùm đấy!
Việc anh Tân không những không bắt tội tôi mà còn chỉ đường cho tôi chạy, đó cũng là nhờ ơn Chúa. Xin cảm tạ Chúa và xin Chúa gia ân cho con người tốt bụng này.
Kể từ ngày có Chúa tôi đã sống hạnh phúc trong ân nghĩa Chúa Tình yêu của Chúa luôn hiện diện quanh tôi qua những cử chỉ thân ái và tình bằng hữu thân thiết của anh em con cái Chúa. Chúa đã làm cho tôi nhiều điều kỳ diệu, đáng lẽ tôi phải chết nhưng đã được cứu sống. Trước hết Chúa đã cho tôi sống lại trong linh hồn, từ niềm tuyệt vọng Chúa đã cho tôi hy vọng, cho tôi biết thống hối tội lỗi của mình, cho tôi biết khiêm nhường, biết yêu thương anh em hơn, biết vui lòng chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống, biết vác Thánh Giá hàng ngày theo chân Chúa, chờ ngày hưởng phúc trên trời.
Năm 1981 việc anh em cựu tù cải tạo được đi Mỹ là hoang tưởng, nay tôi cũng là một người trong hàng trăm ngàn anh em bị đầy đọa khốn khổ thời gian ấy, mà nếu như toan tính của cộng sản vô thần thì tất cả chúng tôi đã phải bị giam cho đến mãn đời tại rừng núi sâu Sơn La, Thanh Hóa, nhưng nay lại được lập lại cuộc sống trên đất Mỹ tự do này. Chắc chắn chỉ có bàn tay của Chúa mới làm nên điều kỳ diệu ấy.
Rất nhiều anh em cựu tù cải tạo sang Mỹ mấy năm đã ổn định, công việc làm đã vững chắc, con cái đã tốt nghiệp đại học. Riêng tôi nhờ ơn Chúa tôi đã nguồn cảm hứng dạt dào để đem khả năng Chúa cho viết được các ca khúc ngợi khen, cảm tạ Chúa. Từ năm 1993 tôi đã nỗ lực soạn được toàn bộ Đáp ca cho các ngày Chúa Nhật và Lễ trọng và nay đã in thành sách được đặt tên là: “Con Nâng Hồn Lên Tới Chúa”
Tôi đã được Chúa cứu vớt, tôi xin nguyện trọn đời theo Chúa.

Vũ Thành An
Bài Thánh Ca Đầu Tiên
Hát Trong Đêm Được Rửa Tội.
Trong thơì gian con đán đo suy nghĩ thêm trước khi quyết định rửa tội con đã làm mấy bài hát. Bài đầu tiên là bài: Cha Là Ngôi Trời Có Thật:

Những Giấc Mơ

Sau khi rửa tội con đã có những giấc mơ đáng ghi nhận.
Con mơ thấy có ba vị ngôi chung với nhau: Một vị Nam và 2 vị Nữ. Trong câu truyện con nghe rõ một chữ mà thoạt đầu con không hiểu nghĩa là gì, đó là chữ RECRUIT. Chữ đó vang mãi trong đầu con. Sáng hôm nhau con tìm quyển Tự Điển và tra đươc nghĩa của chữ này: Tuyển Mộ. ( Hồi đó anh em trong trại Hà Tây có thể nói người nhà mang sách vào đọc. Nhân cơ hội này nhiều anh em mang sách tiếng Anh vào học hy vọng sau này đi Mỹ.). Khi biết được nghĩa của chữ Recruit con nghĩ rằng con đã được tuyển chọn để làm việc gì đây.
Một đêm khác cũng trong Trại Hà Tây, sau khi con được rửa tội không lâu, trong lúc nửa thức nửa ngủ ( chưa ngủ hẳn nhưng cũng không phải là thức ) con thấy một vị mặc Tu Phục, có đeo xâu chuỗi lớn và dài ở thắt lưng tới bên cạnh con, con không nhìn rõ mặt, lúc đó con cũng không biết Tu Phục đó thuộc Dòng nào. Sau này con mới biết Thánh Nữ Teresa mặc Tu PHục giống như vị tới bên cạnh con tối hôm ấy. Chắc là Thánh Nữ Teresa đã đến thăm con trong tù?.
Đến năm 1983 con đã có linh cảm là sắp đến ngày con được tha, một tối kia mơ thấy một vị trao tặng con một đoá Hoa Hồng Mầu Xanh rất đẹp. Hình ảnh này con nhớ mãi vì người ta không thể trồng được hoa hồng mầu xanh cho nên đối vơi con là một tặng phẩm đặc biệt.
Hát lên đi ngày vui đến rồi. Những tháng năm u buồn đã trôi.
Hãy quên đi ngày xưa đen tối. Sáp yêu thương tô lên làm môi.
Cánh Hoa Xanh Người Cho Lúc Nào, vẫn xinh tươi như ngày mới trao.
Chớ lo âu ngày mai cơm áo. Sẽ cho thêm , thêm hơn dồi dào.
Mùa Đông lạnh lùng lướt qua. Xuân về lơi Người ân cần quá.
Cám ơn Anh tình yêu quá đầy. Đã cho em những ngày ngất ngây.
Nhớ thương Anh vời cao trên ấy. Ước mong sao một ngày cầm tay.
Kích Ngất
Năm 2005, trong một buổi tối gây quỹ cho Teresa tại Ocean Palace Houston Texas con đã trải qua một thời gian ngắn không phải là ngủ, cũng không phải là thức và cũng không phải là ngất đi:
Vào một lúc kia, con như vừa tỉnh giấc, mở mắt ra thì thấy đang đi giữa hai hàng bàn tiệc. Con hốt hoảng quá vội ngôi xuống ngay một cái ghế trống trước mặt. Con có gọi thầy Phó Tế Nguyễn Sĩ Bạch là người trong Ban Tổ Chức và nói lên nỗi hốt hoảng của mình. Con hốt hoảng vì trong suốt mấy tiềng đồng hồ con không biết gì hết. Con chỉ nhớ mới đấy thôi bữa tiệc được khai mạc rồi bây giờ bữa tiệc sắp tàn. Suốt mấy tiếng đồng hồ, ca sỹ hát, gây quỹ.. con ở đâu? Đúng là con vẫn đang cùng trong bữa tiệc gây quỹ với anh em mà không biết gì hết. Trong khoảng thời gian đó tâm thức con ở đâu?.
Cây Teresa?
Năm 2006, sau khi con nộp đơn lên Đức Tổng Giám Mục Portland, Oregon xin thành lập the Family of Saint Therese of the Child Jesus ( Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu) con mơ thấy một cái cây to lớn vô cùng. Thân cây như một toà nhà cao tầng lên vút tận trời xanh. Cành lá vươn dài ra muôn trùng. Có thể đây là dấu hiệu Chúa cho biết sau này Gia Đình Teresa sẽ lớn mạnh như cái cây ấy?.
Được Thả Tù
Tháng giêng năm 1985, sau gần 10 năm tù Cải Tạo con được thả về khi gần Tết. Đoàn chúng con được chở bằng xe tải tới gần ga xe lửa tại Hanoi, bỏ xuống dọc đường nói hãy ngủ bên vệ đường chờ sáng mai sẽ được đưa lên tầu. Họ vẫn chưa đưa cho chúng con Giấy Ra Trại.

Lúc đó con có một địa chỉ tại Hanoi đó là số 28 Mai Hắc Đế. Đây là địa chỉ nhà bố của Thoa vợ con ở trước khi Di Cư vào Nam năm 1954. Căn nhà để lại cho ông chú của Thoa ở cùng với gia đình. Trong một dịp thăm con,Thoa đã để lại một số tiền nhờ cô em họ là Hoàng Yến thỉnh thoảng vào thăm con. Cô Hoàng Yến sau đó đã vào thăm con mấy lần tại tại Hà Tây, có lần dịp Tết cô đã mang vào cho con mười mấy cái bánh chưng. Cô Hoàng Yến cũng lén nhân viên trại giam giúp cho nhiều bạn tù khác của con chuyển thư từ về nhà, nhờ đó người nhà đã biết tin và ra thăm nuôi. Hình ảnh của cô Hoàng Yến 18 tuổi tốt bụng đã trở nên như một thiên thần cho những người tù cải tạo khốn khổ chúng con. Cô Hoàng Yến đã là nguồn an ủi cho con suốt hơn 2 năm trời khi con ở trại Hà Tây từ năm 1981 đến 1983. Năm 1983 con bị chuyển về trại Nam Hà thì cô Yến không thể đi thăm con nữa.

Cô Yến ở số 28 Mai Hắc Đế cho nên cô là người con nhớ đến đầu tiên khi ra tù và muốn đến thăm và cám ơn cô. Con cùng với anh bạn nữa là Khương đã đi xích lô đến nhà cô Yến tối hôm ấy, khi trời Hà Nội chuẩn bị đón Tết. Trời lạnh nhưng đông vui , ấm cúng. Ông bạn con đã ghé Bưu Điện để điện về nhà báo tin ngày giờ về đến Saigon để đi đón. Con không báo để cho gia đình con ngạc nhiên khi bất chợt con về. Chúng con sau đó cùng nhau vào tiệm phở,( con không ăn Phở vì con đã ăn chay từ năm 1983- con chọn một món không có thịt) miếng ngon đầu tiên khi ra tù, thật là hạnh phúc. Không hiểu sao, khi ở Bưu Điện cũng như ở tiệm Phở ông bạn Khương của con đã vui vẻ giới thiệu con với người chung quanh, có nhiều người nghe tên Vũ Thành An tỏ ra biết và đến bắt tay chúc mừng con được tự do. Con ngạc nhiên tại sao ở ngoài Bắc lại biết đến tên con là nhạc sỹ ở Miền Nam cả 10 năm trước đó?.

Hồi ở trong tù , khi đi lao động, một hôm con nghe vẳng vẳng nghe ai hát trong trại nhân viên bài Đừng Yêu Tôi. Con hết sức ngạc nhiện tại sao ở miền Bắc này lại có người biết đến bài hát ít nổi tiếng đó?

Khi chúng con đến nhà cô Hoàng Yến thì cũng đã hơi muộn, chắc khoảng 9 giờ tối. Ông cụ bà cụ – cô ruột của Thoa- mẹ cô Hoàng Yến đón chúng con trong ngạc nhiên và vui mừng. Lúc đó Hoàng Yến đã đi lấy chồng, không có nhà. Ông cụ bà cụ nói chuyện hỏi thăm chúng con lâu lắm. Ông cụ bà cụ không ngờ chúng con đã được thả sớm như vậy! ( mười năm tù mà ông cụ bà cụ còn cho là sớm). Ông cụ nói vơí chúng con rằng, dạo trước Thoa có ra thăm, cụ đã nói với Thoa rằng chắc khi nào con chống gậy con mới được thả. Mọi người đều nghĩ như thế lúc đó cho nên có thể đó là một trong những lý do khiến Thoa tìm hạnh phúc cho riêng mình.

Con về tới nhà mọi người mừng mừng tủi tủi. Tưởng rằng con sẽ ăn thật nhiều sau bao nhiêu năm đói, thế nhưng con đã nghẹn trong bữa cơm đầu tiên ở nhà Bố con.

Trước khi đi tù, con còn nhà, còn vợ còn con. Nay trở về, nhà đã mất, vợ con không còn bên cạnh.

Mối tình với Nguyễn Thị Oanh

Một vài người bạn thân đã đến thăm trong đó có anh Phạm Huy Trung người bạn hồi còn đi học trung học. Anh Trung hồi đó có quà Mỹ cho nên hứa mỗi tháng cho con 100 đồng để tiêu. Anh Trung còn giới thiệu con với Bác Sỹ Nguyễn Thị Oanh, đang sống một mình chờ ngày đi đoàn tụ gia đình ở Mỹ. Sau một thời gian ngắn, được phép của Trung con đã quen với Oanh. Có thể nói Oanh là một ân nhân lớn của con. Trong khi con chới với trở về từ tù tội sau 10 năm thì Oanh đã an ủi , giúp đỡ cho con tin ở cuộc sống trở lại.

Nhà bố con hồi đó con cháu đều trở về tá túc nên rất chật chội. Bố con đã già nhưng cố gắng mua cây gỗ tự tay đóng cho con một tầng gác duới ngay mái ngói. Mỗi tối con phải trèo qua một cây gỗ đứng, lên căn gác nhỏ của mình. Trời mưa thì rột, trời nắng thì thật là nóng. Có môt hôm con bị con gì cắn sưng cả chân.

Con được người này người kia giới thiệu đi kèm học Anh Văn để sống. Để có thể có một giấy tùy thân đi đây đi đó, con được anh Phạm Huy Trung giới thiệu đi sinh hoạt tại Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sỹ Quận Bình Thạnh. Quả thật sau ít ngày con được cấp một thẻ Hội Viên có dấu đỏ đóng trên tấm hình của con. Nhờ giấy này con yên tâm đi đây đi đó tìm đường vượt biên. Nói vậy chứ con đâu có tiền để vượt biên. Nhờ ở Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sỹ Bình Thạnh con liên lạc trở lại với Ca Sỹ Túy Phượng. Tuý Phượng là ca sỹ con ái mộ từ những khi con còn học Trung Học, con hay đi xem cô hát và diễn kịch của Quán Anh Vũ. Gặp lại con Túy Phượng vui vẻ giúp đỡ, cho con mượn nhà ở mặt đường mở lớp dạy Anh Văn nhưng cũng không có mấy ai học. Tuý Phượng rủ con vào nhóm văn nghệ sỹ chuẩn bị được Mỹ ” Bốc ” đi. Phượng còn chỉ cho con chỗ Mỹ sẽ đem xe đón chúng con nữa. Khi nào được báo anh em sẽ đến nơi đó để được đón đi. Bán tín bán nghi con cũng a dua theo đại. Cả một thời gian dài sau cũng chẳng thấy ai gọi. Sau này mới biết chúng con đã bị lừa, bị đem tên tuổi để người ta lừa người khác kiếm tiền chứ thật chẳng có chương trình Mỹ ” Bốc” Van Nghệ Sỹ gì cả.

Nhà ở quá chật và quá bất tiện, con ao ước có một chỗ nào đó đặt chiếc giường để ngủ thoải mái. Trong khi đi sinh hoạt ở Câu Lạc Bộ Văn Nghệ Sỹ Quận Bình Thạnh con có quen anh bạn Nguyễn Tấn Xuân. ( Trịnh Công Sơn có rủ con vào Hội Nhạc Sỹ Thành Phố nhưng con né tránh, con chỉ muốn có chỗ nào thật nhỏ bé để ẩn thân thôi. Con muốn lặn cho sâu, không muốn nổi lên để gặp rắc rối. Trong suốt thời gian sinh hoạt Câu Lạc Bộ con chỉ thỉnh thoảng đi họp cho có lệ. Tìm cách thoái thác mỗi khi được yêu cầu sáng tác mới hay trình diễn trước công chúng).

Anh Nguyễn Tấn Xuân biết sáng tác vài ca khúc, có làm thơ nữa nên gia nhập Câu Lạc Bộ với tư cách Nhạc Sỹ. Anh có nhà mặt tiền ở Quận Bình Thạnh, lúc đó anh làm nghề Sơn Sườn Xe đạp. Đối với con anh sống quá vững. Nhà anh có một cái hiên đang để trống. Con rất thèm chỗ này để nghỉ ngơi. Con nói với anh cho con thuê chỗ này để quây lại làm chỗ nghỉ. ( Hiên này dài khoảng 3 thước , ngang hơn một thước). Anh Tấn Xuân lúc đầu nghe con nói không trả lời gì. Con tưởng anh từ chối nên cũng không dám nhắc lại. Vài ngày sau anh hỏi con: Anh có muốn lấy vợ không? Anh có vợ thì có chỗ ngủ tốt đẹp hơn mái hiên nhiều. Con chưa dám trả lời gì cả.

Lúc ấy con đang quen thân với cô Bác Sỹ Nguyễn Thị Oanh. Câu hỏi của anh Tấn Xuân khiến con suy nghĩ. Mặc dù chưa hẹn thề gì với Oanh nhưng chúng con đã rất thân nhau. Oanh đang chuẩn bị đi đoàn tụ gia đình bên Mỹ cho nên không có bất cứ chương trình dài hạn nào ỏ Việt Nam ngay cả việc hành nghề Y. Chắc chắn đối với con Oanh cũng không muốn có liên hệ lâu dài. Suy đi nghĩ lại nhiều lần trước lời mời của anh Tấn Xuân, một buổi tối kia trời mưa, con hỏi Oanh:

Oanh ơi, nếu sau này Oanh không đi được Mỹ,Oanh có lấy anh không?.

Oanh đã trả lời ngay, rất nhanh: Không!.

Như vậy con không có một trách nhiệm gì với Oanh nếu con đi lấy vợ!.

Vượt Biên – Lấy Vợ – hay Đi Tu?

Khi con đi cải tạo về, biết gia đình con đổ vỡ, đã có nhiều mai mối cũng như bạn bè giới thiệu vợ cho con. Tất cả đều vì thương con muốn con xây dựng lại cuộc đời.
Thế nhưng con đang đắn đo trước 2 con đường: Vượt biên và đi Tu.
Oanh cũng hứa là giúp con vượt biên. Có lần chúng con cũng đã ra địa điểm chuẩn bị lên tầu thì phút cuối chủ tầu nói bị động nên hủy chuyến đi. Oanh cũng hứa là sẽ trả chi phí vượt biên cho con. Cũng có một vị nữa có ý giúp con việc này đó là Bà Vú Tuyết – Phu Nhân của Trung Tá Nguyễn Thế người đỡ đầu thêm sức cho con. Chờ đợi mãi con cũng không thấy Bà Vú Tuyết gọi.
Sau khi được rửa tội theo Đạo Công Giáo con đã tự hứa rằng sẽ dùng thời gian còn lại phục vụ Chúa. Cách cụ thể nhất là đi tu làm Linh Mục. Khi về con và Thoa đã ra toà làm giấy ly dị.
Con có một lần xuống Dòng Châu Sơn ở Củ Chi ở một đêm theo lời giới thiệu của gia đình Bà Vú Tuyết. Trên đường về con có hỏi vị cũng đi tìm hiểu cùng với con là con nên lập gia đình hay nên tiếp tục tìm đường đi Tu? Vị ấy lại khuyên con hãy nên đi lập gia đình!. Trong số những vị Vú Tuyết đỡ đầu có người tu thành công sau này là Linh Mục Ân Đức ( lúc con gặp ở nhà Vú Tuyết thì được gọi là Anh Hoan), cũng có một vị nữa sau này là Linh Mục Cao Thế Bình có thời gian làm Phó Xư Đức Mẹ La Vang ở Portland. Con không hỏi hai vị quyết tâm tu mà con lại hỏi vị sau này bỏ tu đi lấy vợ!. Khi sang Mỹ con có gặp lại lúc vị ấy đi bán Phở.

Người Vợ Thứ Hai
Bà Nguyễn Thi Vân là người con được vợ chồng anh Tấn Xuân giới thiệu đã kể rằng: chị Huê vợ anh Xuân là bạn với bà Vân lâu năm cùng với bà Hộ – một người bạn rất thân nữa- đã xuống nhà bà Vân ở Bà Quẹo nhiều lần nói với bà Vân là muốn giới thiệu một người cho bà Vân. Khởi đầu bà Vân không chịu vì bà không muốn lấy chồng nữa. Đền lần thứ 5, sau khi bà Huê đã nhắc lại việc giới thiệu con thì bà Vân hỏi: thế ông ấy có đep trai không? bà Huê nói: anh ấy đẹp. Bà Vân không tin , đi cải tạo 10 năm làm sao còn đẹp được. Bà Huê xác nhận là ông An còn đẹp. Bà Vân hỏi thêm: thế da ông An có trắng không? bà Huê nói : Da anh này trắng lắm. Cuối cùng thì bà Vân cũng ưng thuận để vợ chồng anh Tấn Xuân dẫn con xuống giới thiệu.

Thế là sau hơn một năm thăng trầm, chúng con trở thành vợ chồng. Lúc xuống chơi con cứ luôn nhắc đến việc đi tu khiến bà Vân hơi bực mình. Đi tán vợ mà cứ nói truyện đi tu! Con đã ly dị hơn nữa hôn phối trước đó con chưa có Đạo Công Giáo cho nên con có đầy đủ điều kiện để lãnh bí tích Hôn Phối với bà Nguyễn Thị Vân do cha Toàn chánh xứ Nam Hoà chủ hôn.
Sau này con được bà Vân hỏi tại sao lại quyết định lập gia đình với bà ấy?
Bà Vân có nhiều điều kiện khiến con ngưỡng mộ: Bà là người đẹp nhất trong số những người tình trước đây của con. Một thân nhân của con đã so sánh bà Vân với Thẩm Thuý Hằng là tài tử đẹp trước năm 1975 tại Miền Nam. Bà Vân rất ngay chính: chồng tử trận năm 1972, ở vậy nuôi 2 con gái suốt gần 15 năm cho đến khi gặp con năm 1986 không có bất cứ điều tiếng gì. Bà Vân là người giỏi giang, trong khi mọi người vất vả kiếm sống thì tự tay bà với khả năng đã xây dựng được sự nghiệp. Lại nữa bà Vân là người hiền hậu con tin là chúng con sẽ sống trong bình an. Tất cả những điều tốt đẹp trên đã dồn lại một khoảnh khắc để con lấy quyết định: trong khi con quay cuồng mệt mỏi đắn đo suy tính về việc đi vượt biên, về việc đi tu thì con thấy Vân sống rất bình thản: nhìn Vân ăn những miếng cam sành trong ngôi nhà yên tĩnh, con thấy bình an. Thế là con dừng bước giang hồ. Quyết định sống cuộc sống bình yên cùng với người vợ hiền Trời dành sẵn cho mình.
Chỉ vài tháng sống bình yên: nhà có tiệp chụp hình, con làm cửa tiệm Photocopy. Cuộc sống ổn định.

Một buổi chiều kia con đi bộ chung quanh xóm chúng con ở thì tim con lại giật lên từng hồi. Căn bệnh này con có từ những năm cải tạo ở Hà Tây 1981. Con đã nghĩ rằng đây là dấu hiệu giây phút cuối cùng của đời con đã gần kề.
Khi về tới nhà thì được tin chương trình Định Cư tại Mỹ cho những người bị cải tạo trên 3 năm và gia đình của họ đã chính thức bắt đầu. Các Văn Phòng đã được mở cửa để nhận đơn. Đây là niềm vui lớn cho tất cả anh em Cải Tạo. Tin đồn này đã có từ những năm 1982 ở trong tù, nay năm 1989 đã được thực hiện.
Gia đình con cũng làm hồ sơ theo diện HO ( dành cho gia đình cải tạo) mặc dù trước đó chúng con cũng đã có hồ sơ xuất cảnh theo diện Con Lai ( bà Vân có nuôi một cháu lai Mỹ). Chúng con ở trong Danh sách HO 8, đến cuối năm 1991 thì gia đình được gọi đi theo diện Con Lai, trong khi danh sach HO 8 còn đang chờ. Vì vậy chúng con đã được đưa sang Phi Luật Tân, trong 6 tháng đươc hướng dẫn về cuộc sống bên Mỹ.
Sang tới Phi Luât Tân con mới thật sự biết là mình được tái sinh. 16 năm sống trong kềm kẹp, nhân phẩm bị chà đạp nay được sống tự do và được tôn trọng. Con từ từ trở lại con người Vũ Thành An khi trước năm 1975. Nhìn lại cuộc tình và cuộc đời mình sau 25 năm con đã viết thêm lời 2 cho Những Bài Không Tên. Con đã có dịp trình diễn văn nghệ trong trại Bataan, con đã được đi Manila thực hiện những chương trình nhạc cho Đài Phát Thanh Veritas. Con không ngờ rằng có người Phi Luật Tân cũng biết nhạc của con. Môt ông thầy dạy Tiếng Anh trong trại đã biết rất rành Bài Không Tên Sồ 2 và đã cùng con trình diễn 2 lần trong trại.
Sang Mỹ – Vũ Thành An từ từ sống trở lại.
Sang tới Mỹ con được chào đón, có chỗ nồng nhiệt, có chỗ đã trút lên con những thù hận về những đau khổ họ đã chịu. Thực ra con không gây ra cho họ những điều đó nhưng hình như họ không biết trút nỗi tức giận ấy vào ai cho nên đổ lên con bởi vì họ tưởng lầm rằng con cộng tác với kẻ thù của họ. ( con trình bầy rõ trong phần Trần Tình ). Lúc đầu con rất đau khổ về điều này nhưng rồi có một số vị không cam tâm nhìn thấy con bị oan ức cho nên đã lên tiếng dùm con. Điều này đã làm nhẹ áp lực cho con rất nhiều. Tuy nhiên sẽ không bao giờ hết hẳn, cho dù sau này con có ra đi chăng nữa, nỗi hàm oan này sẽ vẫn còn.
Tất cả mọi sư con xin phó thác vào Chuá Quan Phòng. Con biết Chúa đã ở cùng con mọi lúc và cho nhũng Thiên Thần của người đến nâng đỡ an ủi con. Rất nhiều Thiên Thần đã đến với con từ khi con được Rửa Tội làm con Chúa. Xin Chúa chúc lành cho những Thiên Thần Ây.
Sang đến Mỹ con đã gần 50 tuổi, phải đối diện với cuộc sống mới nhiều khó khăn:
Năm mươi còn ngơ ngác
Theo dòng đời tới lui.
Ở Thủ Đồ tỵ nạn Orange County một thời gian mấy tháng đầu: cuộc sống gia đình chúng con chưa thể ổn định: vợ ngồi may suốt ngày, con gái lớn thất nghiệp, con gái thứ chưa được vào Đại Học. Riêng con vẫn đi tìm việc trong khi được mời đi hết đám tiệc này đến đám tiệc kia. Gia đình mình khó khăn mà lại phải đi chia vui ( hay giúp vui? vì người ta cứ yêu cầu con hát) với người.
Năm 1992 chị Phương Ninh là bạn cũ của con hổi ở Saigon có mời con lên trinh diễn ở Portland Oregon. Anh Hà, chồng chị Ninh là người rất tốt bụng, cũng vất vả vì con. Cò lần anh đi đón con ở Phi Trường Portland vào sáng sớm đã bị phạt mấy trăm dollar vì lái xe quá tốc độ khi gần đền Phi Trường. Tới Portland, con được gặp ông La Thành Hải. Gia đình ông Hải có một căn appartement phia trên nhà ông để trống, ông Hải đề nghị cho gia đình con ở nhờ, không phải trả tiền. Ông nói trên Portland rất dễ kiếm việc, nhà rẻ, cháu gái sẽ có thể đi học College ngay… Nghe ông Hải nói vậy con mừng lắm và quyết định đưa gia đình lên định cư ở Portland. Vợ con và các cháu cũng rất mừng vì ở dưới Orange County, tiền nhà rất mắc, 4 người phải ở trong một phòng chặt chội mà mỗi tháng phải trả $850, chưa kể phải chia các khoản điện nước…Lên Portland, được ở miễn phí thì còn gì bằng.
Định Cư Tại Portland
Quả thật lên tới Portland gia đình chúng con mau chóng ổn định. Cháu lớn có việc làm ngay, cháu nhỏ được vào College, con được ông Hải giới thiệu đi làm cho một văn phòng Luật Sư. Căn gác tuy nhỏ nhưng cũng có đầy đủ: 2 phòng ngủ, một phòng khách phòng ăn chung. Mấy tháng đầu ông bà Hải không lấy tiền nhưng sau ông bà cũng nhận tượng trưng $200/ tháng. Đây là một sự nâng đỡ tuyệt vời thời gian ban đầu chúng con ở Mỹ. ( Cháu gái lớn, cháu Loan sau này lập gia đình với Phương là cháu của bà Hải, năm 2013 đã có 3 cháu, cháu đầu đã học lớp 12. Cháu gái thứ 2 là Chi cũng đã ra trường làm Register Nurse, có một cháu trai )
Hai năm sau vào năm 1994 con lưỡng lự trước quyết định: có nên đi học để lấy bằng hành nghề Luật Sư không? Con có bằng Cử Nhân Luật năm 1972. Văn bằng này được công nhận ở Mỹ. Anh em Luật Sư, trong đó có Luật Sư Trần Thị Thu Cúc là bạn cũ của con ở Saigon khuyến khích con đi học để lấy bằng. Một số Luật Sư đi trước còn mở khoá huấn luyện để hướng dẫn những người như con. Con cũng đã lấy tài liệu về tham khảo. Đối với con lấy bằng đã khó và nếu có bằng đi hành nghề lại càng khó hơn, lý do chính: sinh ngữ không thông thao. Muốn thông thạo hơn ít nhất phải 3 năm chuyên tâm học may ra mới khá hơn, lúc đó thì đã lớn tuổi hơn rồi. Nhìn lại chung quanh, con thấy có nhiều Luật Sư còn bị thất nghiệp nữa.
Cũng trong thời gian này bệnh đau lưng của con bắt đầu trở nặng. Trước đó con thường bị đau lưng, nhất là những khi con bị cảm sốt thì thế nào cũng bị đau lưng mấy ngày. Năm 1992 khi ở Portland bệnh đau lưng đã kéo dài nhiều ngày. Con đã được đi chụp hình cột sống, qua những âm bản cho thấy một vài đốt xương sống cûa con có gai. Gai dài đến nỗi có những lúc con phải bò để di chuyển. Bác Sỹ khuyên con nên phẫu thuật để cắt những gai này. Con cứ lần lữa chịu đựng đau, không muốn mổ vì sợ rằng nếu mổ xong sẽ có nguy cơ bị liệt luôn. Vì đau lưng cho nên con không nằm nệm mà phải luôn luôn nằm trên mặt phẳng. Mỗi khi đi đâu con đều trải khăn nằm xuống sàn.
Ngoài những cơn giật tim, lưng luôn bị đau con còn rất khó ngủ, sức khoẻ rất yếu. Có lần nghe lời khuyên của bạn bè con đã để cho Bác Sỹ Phan Duy Hiển ở bên Pháp sang châm cứu , đưa vào thân thể con ở những huyệt quan trọng những giây nhỏ bằng vàng. Bác Sỹ Hiển cho rằng nhờ những giây vàng này ở thường xuyên trong người con sẽ giúp con khoẻ lại.
Sau khi châm kim vàng con khoẻ lại đôi chút nhưng vẫn không sinh hoạt được bình thường. Được trợ cấp nghỉ bệnh con nằm nhà dùng hết thời gian vào việc soạn 150 Thánh Vịnh. Hơn một năm sau con đã soạn xong.
Cũng trong thời gian này con đã viết tiếp lời cho bài Đời Đá Vàng.
Những ngày cuối năm 1974 ở Bộ Dân Vận Chiêu Hồi con đã viết:

Ta lần mò leo mãi không qua được vàch sầu.
Ta tìm môt tiếng yêu thấy toàn là sầu đau.
Ước vọng ngày thơ ấu chưa xin được chút nào.
Suốt đời còn ước ao, khát vọng còn cấu cào.
Ôi thôi đời ta phung phí trong cơn buôn phiền
Ta xin tháng ngày rồi bình yên.
Ô hay tại sao ta sống chốn này quay cuồng mãi hoài có gì vui?

Lời bài hát đã dừng lại ở đấy, không viết thêm được nữa.
Gần hai mươi năm sau, trải qua một giai đoạn đau thương con viết thêm:
Có một lần mất mát mới thương người đơn độc.
Qua dầm dề mưa thuyết mới vui ngày nắng về.
Có một thời khóc than mới hiểu đời đá vàng.

Có một lần mất mát mới thương người đơn độc: Đây là lời hát cảm thông với người vợ của con: bà Vân. Một người thiếu nữ mất chồng khi còn quá trẻ đã một mình đơn độc bương trải sống nuôi 2 người con khôn lớn trong suốt 15 năm trước khi gặp con. Trong suốt bao năm chiến tranh, của chết chóc, của áp bức bà vẫn vững vàng chiụ đựng và trung trinh sống. Bà như là một tặng phẩm Chúa ban cho con sau 10 năm tù cải tạo.
Có một thời khóc than mới hiểu đời đá vàng: vâng tất cả mọi người ở Miền Nam Việt Nam đều đã trải qua một thời khóc than sau năm 1975, chắc nhiều người cũng như con hiểu rõ giá trị của cuộc đời đang có.
Đến năm 2002 trước khi được chịu chức Phó Tế, con đã viết thêm:
Xuống tận cùng dưới đáy mới thấy mênh mông rộng cõi trời.
Hãy mở lòng chúng ta đón nhận biển Tình Yêu.
Có nghìn lần tha thứ cũng chưa là ái từ.
Hãy cảm tạ biết ơn có được đời đá vàng.

38 năm sau khi viết lời đầu tiên, qua nhiều bước thăng trầm, được sống trong Ân Nghĩa của Chúa con mới biết cảm tạ ngay cả những đau khổ Chúa đã ban cho con bởi vì chính nhờ những đau khổ đó con mới được như ngày hôm nay. Nếu con không bị 10 năm tù, có thể con sẽ không bao giờ được biết Chúa.
Con chịu đựng bệnh đau lưng nhiều năm và vẫn không chịu giải phẫu. Đến khoảng năm 2004 có một anh bạn dạy cho con một vài động tác dưỡng sinh, vui mừng thay chỉ qua những thao tác đơn giản mỗi ngày con đã không còn đau lưng nữa. Con đã có thể năm nệm bình thường. Trước đó nếu con nằm nệm, lưng bị cong, thể nào sáng hôm sau không thể nào đứng thẳng được.
Động tác tập ông bạn dạy con quả thực đã hiệu nghiệm, mười năm rồi con không còn đau lưng nữa, 71 tuổi mà vẫn đi đứng nhanh nhẹn như còn trai trẻ.
Song song với việc dưỡng bệnh, nhờ sự giúp đỡ của thân hữu con đã sản xuất được cuốn CD Thánh Ca đầu tiên được đặt tên là Teresa Ơi, sau đó thêm 2 CD thánh ca nữa: Con Nâng Hồn Mình Lên Tới Chúa và Mẹ Rất Thánh. Năm 1996 con ra mắt cuốn CD Tình Ơi Giã Biệt. Trong khi ra mắt CD này con đã nói với mọi người rằng: con đã hứa với Chúa là sẽ không sáng tác và hát Tình Ca Đôi Lứa nữa. Con muốn toàn tâm toàn ý vào việc học Thần Học. Cho đến bây giờ còn có nhiều người yêu cầu con hát Những Bài Không Tên. Con vẫn xin từ chối và chưa từng hát lại lần nào nữa cho tới nay. Con đã nói với bạn vè rằng: có lẽ con giữ được lời đã hứa với Chúa cho nên Chúa đã cho con được chịu chức Thầy Phó Tế cho dù con chẳng xứng đáng gì cả.
Đào Tạo thành Phó Tế
Đến mùa hè năm 1995, trong một chuyến đi tham dự Khoá Học Hội Giáo Lý Tân Biên tại Chicago, có sự hiện diện của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, con được gặp các thầy Phó Tế Vĩnh Viễn.
Hỏi ra con mới biết các Thầy Phó Tế Vĩnh Viễn là người có gia đình! Có vợ mà vẫn được tu!. Con mừng quá, gọi điện thoại ngay về với Vân vợ con báo tin vui này và bầy tỏ khao khát muốn được đi học Thầy Sáu. Một trong những điều kiện để được đi học là có chữ ký ưng thuận của bà vợ. Vân đã biết con có khát vọng đi tu từ khi hai người mới quen cho nên đã vui vẻ bằng lòng ngay.
Thế là hành trình tươi đẹp bắt đầu.
Trưa ngày Thanksgiving 23 tháng 11 năm 1995, con cùng với Vân vợ con lên Nhà Thờ Lavang gặp LinhMục Vincent Cao Đang Minh và xin ngài giới thiệu con đi học lớp Phó Tế tại Portland. Ngài đã vui vẻ nhận lời ngay. Theo như chương trình đào tạo Phó Tế ở Portland Oregon thì Ứng Viên cần có Cao Học Thần Học ( Master of Theology). Cha Minh còn xin học bổng cho con nữa. Theo nguyên tắc người đi học phải tự bỏ tiền ra trả tiền học. Cả khoá học có thể lên tới 3 , 4 chục ngàn dollars! Thực tế con không thể có món tiền nhiều như thế.
Trong thâm tâm của con, con biết rất rõ con không thể nào có đủ điều kiện theo học chứ đừng nói đến được chịu chức. Con đã lớn tuổi ( đã 52 rồi, chậm chạp rồi), tiếng Anh còn kém, làm sao theo kịp các bạn cùng lớp gồm những ông Mỹ có bằng cấp cao như: Kỹ Sư, Luật Sư, Thẩm Phán… Thế nhưng vì quá khao khát con cứ liều xin đi học.
Bệnh Tim
Một lý do quan trọng khác: Con bị bệnh rối loạn nhịp tim nặng. Nhịp tim của con có vấn đề ngay từ những năm trong tù cải tạo. Triệu chứng tim đập không đều, lâu lâu con cảm thấy rất rõ có một nhịp bị lỗi.
Một buổi tối kia biến cố quan trọng xảy ra, có thể con đã không còn nữa sau biến cố này. Mùa đông năm 1982 con bị bệnh nặng phải đưa lên nằm Bệnh Xá trong Trại Hà Tây. Một trong những bệnh làm con mất sức đó là mất ngủ. Mỗi ngày, khi trời nhá nhem tối thì tất cả cửa tù đều được đóng chặt. Tối kia, trước khi vào phòng, anh bạn Y Vụ ( người được cắt cử lo việc y tế cho anh em) nói với con: để tôi chích cho anh mũi thuốc này, tối nay anh sẽ ngủ được. Chích thuốc xong thì cai tù xuống đóng cửa phòng. Khi vừa vào trong phòng đến chỗ nằm của mình thì tim con đập thật mạnh, thật nhanh. Ngực con như muốn vỡ ra vì con tim bị giật lên liên tục. Con hốt hoảng quá, không biết làm sao, miệng kêu cấp cứu, tay cầm xâu chuỗi,( xâu chuỗi này Bõ Nguyễn Văn Mân đã tặng con nhân dịp con rửa toi, ngài nói xâu Chuỗi này đã được chính Đức Giáo Hoàng John Paul I I làm phép). Hồi đó trong trại, nếu cửa tù đã đóng rồi, khi có việc khẩn cấp, anh em kêu cấp cứu to lên để cai tù tới mở cửa. Gọi mãi , gọi mãi cũng chẳng thấy ai vào. Con nghĩ rằng nếu tim cứ đập mãi thế này thể nào cũng đến lúc quá mệt sẽ ngưng đập thôi. Sau chừng một lúc lâu có thể một tiếng đồng hồ như thế con vào phòng vệ sinh đi tiểu. Lạ lùng thay ngay sau đó, tim con đập trở lại bình thường. Như sau cơn bão, mọi sự trở lại bình yên.
Sau biến cố đó, cứ lâu lâu con lại cảm thấy như tim nình bị giựt giựt lên vài cái.
Sự lo sợ chết bất chợt vì bệnh tim cứ ám ảnh con.
Một ngày kia trên đường đi lao động ở trại Nam Hà vào năm 1983, trên đường vào chỗ lao động ở trong một thung lũng gần trại ( anh em cứ gọi là vào Thung) tim con lại giật lên từng hồi.
Con lại có cảm giác những ngày cuối cùng của cuộc đời sẽ đến. Mình sẽ chết trong tù thôi.
Trưa đó con chia xẻ nỗi buồn này với anh bạn tù Nguyễn Phát Lộc. Anh Lộc tự nhiên đối với con là một người bạn hiếm có, một nguồn an ủi lớn cho con trong những ngày ở Hà Tây và ở Nam Hà.
Anh Lộc ngay trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 được cử làm Tổng Trưởng Trung Ương Tình Báo. Chức vụ cao cấp nhất của Tình Báo Miền Nam. Anh biết xem chỉ tay và cả Tử Vi. Con đã than thở với anh Lộc là có lẽ là tôi sẽ chết trong tù anh Lộc ạ. Dưới tấm bạt che nắng được dựng tạm, thấp tè tè ngay trên đầu khi ngồi, trong thung lũng sâu, anh Lộc đã nói với tôi: Câu đừng lo, sau này cậu sẽ bay như chim. Lúc đó nhớ gặp Đức Giáo Hoàng và tặng ngài bài hát O Ceur Tres Saint De Jesu.
Quả thật sau này từ khi sang Mỹ năm 1991 đến nay con có cơ hội liên tục đáp phi cơ đi đây đi đó, đến năm 1993 con có dịp trao tặng bài hát cho Đức Giáo Hoàng John Paul I I tại Chicago năm 1993 :

Sau đó nhận được thơ trả lời:
Con đã rất mừng nhận được thư trả lời từ Vatican!
Đến năm 1998 con cùng Nhạc Sỹ Từ Công Phụng , Nhà Thơ Du Tử Lê đi Đức ( sau đó đi Pháp có gặp lại Dung con đã kể rồi ). Chúng con ở nhà anh chị Phạm Văn Chính một người rất yêu văn nghệ. Trong thời gian ở nhà anh Chính , con được xếp ngủ chung phòng với cháu nhỏ. Một buổi tối kia tim con lại đập rối loạn liên tục, con rất lo sợ, không phải riêng cho con mà cho cả gia đình anh Chính , vì nếu có truyện gì xảy ra thì tội nghiệp cho anh Chính sẽ phải lo cho con.

Các Nhạc Sỹ
Văn Phụng, Song Ngọc, Nam Lộc, Phạm Duy, Hoàng TRọng, Nhật Bằng, Ngô Thuỵ Miên, Nguyễn Túc, Vũ Thành An, Từ Công Phụng

Sau chuyến đi đó về con đã đi khám bệnh và được Bác Sỹ chuyên môn bệnh tim cho con đeo một máy đo nhịp tim. Sau 24 tiếng đồng hồ, máy đã ghi nhận có trên 40 ngàn nhịp bất bình thường!. Bác Sỹ bắt đầu cho con uống thuốc điều hoà nhịp tim. Những thuốc Bác Sỹ cho chỉ hữu hiệu một thời gian vài tháng sau đó tim vẫn đập hỗn loạn trở lại. Cuối cùng Bác Sỹ tên là Spears cho con uống một loại thuốc rất độc: thuốc Amiadorone. Thuốc này ảnh hưởng đến phổi và thận. Uống một thời gian dài sẽ hư phổi và hư thận. Không còn lựa chọn nào khác. Con đành chấp nhận chữa bệnh tim trước. Thà để một thời gian nữa chết hơn là chết ngay bây giờ. Uống thuốc này mấy năm đến mùa hè năm 2002, trong thời gian đi dự Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Toronto Canada con mới có cơ hội thấy được ảnh hưởng của loại thuốc độc hại này. Một buổi trưa kia con cùng một vài người bạn đi thăm thác nước nổi tiếng Niagara, trên đường về nhà mọi người nhận thấy da của con đỏ lên như con tôm luộc. Đây chính là Side effect của thuốc Amiadorone.
Khi trở lại Mỹ, bác sỹ Spear chuyển đi nơi khác và con được chuyển tới một Bác Sỹ khác. Bác Sỹ mới này tên là Strelich, cô cao lớn và rất đẹp. Cô Bác Sỹ Strelich đã rất ưu tư khi con uống thuốc độc hại Amiadorone lâu dài như vậy cho nên đã thử đổi thuốc mới cho con. Thuốc này là loại thuốc chữa bệnh cao huyết áp thông thường có tên là Metropolol. Lúc đầu cô cho con uống mỗi ngày 50 Mg. Rất may là thuốc đã hữu hiệu. Tim con đập bình thường. Cô Bác Sỹ Strelich rất vui và con cũng rất mừng. Thuốc Metropolol rất an toàn không có phản ứng phụ. Sau một thời gian uống 50 Mg, bác sỹ giảm xuống chỉ còn 25 Mg một ngày mà tim vẫn đập bình thường! Con đã tiếp tục uống thuốc này cho đến nay 15 năm sau ( 2013).
Việc được đổi sang thuốc mới này quả là một Ơn Chúa lớn lao cho con. Nếu con cứ tiếp tục uống thuốc độc hại Amiadorol thì chắc là con đã không còn nữa rồi!. Chắc là Thánh Nữ Teresa qua bác sỹ Strelich ( có nhân dáng giống như Thánh Nữ) đã chữa bệnh tim cho con.
Trong thời gian 5 năm từ năm 1998 đến năm 2002 con uống thuốc do bác sỹ Spears kê toa nhưng không hữu hiệu mấy. Con còn nhớ trong suốt thời gian ấy con vẫn theo chương trình đào tạo Phó Tế của Tổng Giáo Phận Portland. Con ít chia xẻ căn bệnh này với người khác.
Vì căn bệnh này năm 1997 con đã xin cha Cao Đăng Minh không tiếp tục chương trình nữa. Lúc đầu cha Minh rất bực vì cha không những giới thiệu con với Địa Phận Portland mà còn xin học bổng cho con nữa. Con đã ghi danh học chương trình Master of Therology của University of Dallas ( có mở lớp ở Portland). Cùng lớp với con có 2 vị sau này cùng được chịu chức với con đó là Deacon Harold Burke Sivers và Deacon Brian Diehm.
Sau khi căn bệnh đã tạm ổn định rồi, con lại muốn tiếp tục chương trình trở lại. Một hôm con gọi lên Địa Phận Portland, gặp Deacon John Ries là người phụ trách chương trình Phó Tế và con mạnh dạn hỏi là hồ sơ của con có còn được xét không? Ông trả lời : vẫn còn. Con mừng quá. Thực ra đơn con đã gửi đi, con đã đi học Cao Học Thần Học ( rồi ngưng học ) nhưng chưa qua năm đầu tiên đó là năm Discerment Year. Qua khỏi năm này, được chọn rồi mới đi học Cao Học.
Discerment Year là năm đầu tiên của quá trình đào tạo tối thiểu 5 năm. Một năm Discerment Year, sau đó 3 năm đi học Thần Học, cuối cùng là năm Candidacy.
Năm 1998 con được vào năm Discerment Year. Địa Phận yêu cầu các bà vợ của học viên đi học cùng. Bà Vân, dù không biết tiếng Anh nhiều nhưng vì chiều con đã cố gắng tham dự các buổi học. Được một thời gian con đã xin cho bà được ở nhà, cha Huneger là Giám Đốc chương trình Phó Tế Địa Phận đã cho phép nhưng Phó Tế John Ries , người Phụ Tá lúc đầu không chịu nhưng cuối cùng cũng phải thuận theo vì nếu bà Vân có tiếp tục tham dự thì bà cũng không tiếp thu được gì. ( đây là một miễn trừ thứ nhất cho con, một bằng chứng của sự Quảng Đại vô cùng của Chúa dành cho con để con được làm Phó Tế Vĩnh Viễn của Người.)
Trong thời gian hai vợ chồng ngồi học thì tim con cứ đập bất thường. Chỉ hai người biết với nhau. Bà Vân đã cùng con chia xẻ những khó khăn đầu tiên.
Sau năm Discerment Year con được chọn và chịu chức Thầy Bốn ( Đọc Sách và Giúp Lễ).
Theo đúng chương trình thì con phải đi học Đại Học để lấy bằng Cao Học ( Master of Theology) nhưng con mới thưa với các Deacon phụ trách rằng chương trình Cao Học bình thường là 3 năm chắc là con phải học 5 hay 6 năm.
Quả thật sinh ngữ tiếng Anh con còn kém không thể theo kịp các bạn đồng môn khác cho nên con cần thời gian dài hơn.
Cũng rất may là trong chương trình Đào Tạo Phó Tế của Địa Phận Portland, trên nguyên tắc là Ứng Viên cần có bằng Master nhưng có những trường hợp ngoại lệ được xếp trình độ tương đương, đó là các Thầy Phó Tế người Mễ. Con là Ứng Viên Việt Nam đầu tiên cho nên cũng được Đức Tổng Giám Mục John G. Vlazny cho vào chương trình này.
Thêm một đặc ân nữa Chúa đã ban cho con.
Thực ra ngay từ ban đầu con đã biết là con không thể nào được chịu chức Phó Tế vì khả năng của con không thể bằng các bạn cùng lớp. Đối với con được đi học đã là hạnh phúc lớn lao rồi. Mỗi lần đi học là con vui như được lên thiên đàng, được gặp gỡ các thầy , các bạn, những người con coi như những Thiên Thần của Chúa là con sung sướng, vinh hạnh lắm rồi.
Thế rồi một biến cố cần phải ghi nhận để thấy được Ơn Chúa Quan Phòng lớn lao cho con:
Gần đến ngày được chính thức ghi danh vào năm Candidacy ( nếu được vào năm này thì chỉ chừng một năm sau là được chịu chức Phó Tế) thì có một trở ngại quá lớn lao:
Như con đã trình bầy trên: Linh Mục Vincent Cao Đăng Minh Chánh Xứ Đức Mẹ Lavang ở Portland đã giới thiệu con đi học Phó Tế năm 1995. Đến năm 2001 vị Kế Nhiệm trong vai trò Chách Xứ Giáo Xứ đã không những không ủng hộ con mà còn làm trở ngại bước đường của con nữa. Những người biết câu truyện thì biết rõ tên của vị này. Xin phép cho con được dấu tên và chỉ dùng chữ Kế Nhiệm để nói tới nhân vật rất quan trọng trong cuộc hành trình làm Phó Tế của con.
Một hôm Deacon John Ries gọi con là vị Kế Nhiệm đã lên Địa Phận Portland tố cáo con tội này tội nọ , không xứng đáng làm Phó Tế, nếu con được phong chức sẽ gây rối loạn trong Cộng Đồng người Việt.
Con đã thất vọng hầu như muốn nghẹt thở vì tin tức không vui này. Cố gắng trong bao năm, khi gần đến ngày có kết quả thì chỉ do một lời nói vô căn cứ mà giấc mộng tan thành mây khói hay sao?
Sau khi suy nghĩ con đã xin có một cuộc họp ba mặt một lời để vị Kế Nhiệm trưng ra những bằng cớ con có tội gì?.
Con nghĩ chắc là vị Kế Nhiệm cũng chỉ nghe dư luận không hay về con, đã tin những lời buộc tội ác ý cho nên đã lên tiếng thôi. Vị Kế Nhiệm cũng không thể nào trưng được bằng cớ cụ thể nào.
Địa Phận đã chấp nhận lời thỉnh cầu của con.
Khi con tới chỗ hẹn của phiên họp thì Cha Huneger đang đánh máy bản Báo Cáo lên Đức Tổng Giám Mục về trường hợp của con. Đến giờ họp Vị Kế Nhiệm đã không tới! Như vậy lới tố cáo của vị Kế Nhiệm đã không còn có giá trị.
Mọi sự đã trở lại bình yên, và con được vào năm Candidacy!
Một lần nữa Chúa đã ban cho con một Ơn Lớn Lao.
Thực ra con chẳng xứng đáng gì, chỉ vì con lẽo đẽo hết lòng đi theo Chúa trong Đức Tin đơn sơ của mình nên Chúa thương xót ban cho con Tác Vụ Phó Tế mà thôi.

Ngày chịu chức 23 tháng 11 năm 2002
Con được chịu chức tháng 11 năm 2002 và được bài sai về phục vụ tại Giáo Xứ Our Lady of Sorrows, South East Portland. Đến tháng 9 con bầy tỏ nguyện vọng làm Linh Mục lên Đức Cha Địa phận với sự khuyến khích của cha chánh xứ Amancio Rodriguez. Con thưa với Đức Tổng Giám Mục là kể từ khi chịu chức Phó Tế con đã không có quan hệ vợ chồng nữa:

Đức Tổng Giám Mục đã từ chối nguyện vọng của con:

Năm 2012 con cũng trình nguyện vọng không tưởng này lên Đức Giám Mục Thanh Hoá Giuse Nguyễn Chí Linh, ngài không từ chối quyết liệt nhưng lưỡng lự vì con còn có gia đình.

Hình Thành Gia Đình Teresa.
Tiền thân của Gia Đình Teresa là qũy từ thiện Teresa với sứ vụ hoạt động là phục vụ các cụ cao niên.”Quỹ Gạo” này đến được với đông đảo các cụ phải nhờ sự cộng tác của các giáo xứ, các hội dòng…Điều này ít nhiều gây khó khăn trong quá trình hoạt động.
Trải qua chặng đường hình thành và bước đầu phát triển của Hội nhờ sự quan tâm, tận tình giúp đỡ và cầu nguyện của các Đấng Bề Trên,các quý vị ân nhân, đến nay gia đình Teresa đã chính thức được công nhận, đã gặt hái được nhiều thành công đáng phấn khởi và ngày một vươn xa hơn.
Để quỹ được hoạt động ở Việt nam, khởi đầu con đã qua linh mục Giuse Đinh Huy Hưởng, cha Linh Hướng của con để gặp sơ Tuyết Hồng Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum. Qua Hội Dòng này chúng con đã vươn dài tay đến hàng trăm địa điểm trên toàn Miền Nam Việt Nam. Qua các video clip quay trong các buổi phát quà, nhiều cụ đã ngỏ lời cám ơn “Dòng Teresa !”. YouTube
Đặc biệt có một lần vào năm 2005, con đem tờ Bướm ( Flyer) đi giới thiệu tại một cửa hàng ở Portland do bác Nguyễn Phú Đức làm chủ, sau khi xem xong bác Đức đã nói: ” Ồ, việc này Dòng Teresa làm thật tốt!” Từ sự kiện này, con đã suy nghĩ: Tại sao mình không lập Cộng Đoàn Tu Sỹ cho Teresa để chính Tu Sỹ Teresa sẽ đi phục vụ các cụ cho đến mãi mai sau? Từ trước tới nay Quỹ Từ Thiện Teresa cần sự hợp tác của Tu Sỹ các Hội Dòng để thực hiện việc phát gạo cho các cụ, tại sao không đào tạo chính các Tu Sỹ của Teresa để toàn tâm toàn ý chuyên tâm vào việc này?.
Với sự hiểu biết đơn sơ của con hồi đó thì để một Cộng Đoàn được Giáo Hội công nhận thì Cộng Đoàn ấy cần có một linh đạo đặc biệt, sau đó là một Sứ Vụ chưa Cộng Đoàn nào có. Teresa đã có linh đạo “Con Đường Nhỏ Yêu Thương” của Chị Thánh là kim chỉ nam và sứ vụ chăm lo cho các cụ cao niên. Con thấy hai điểm này rất tuyệt vời và mặc dù chưa bắt đầu nhưng con đã tin chắc là thể nào sẽ lập được Cộng Đoàn Teresa. Chỉ là vấn đề thời gian. Con đã nghĩ là phải ít nhất 20 năm kiên trì mới có thể thực hiện được.
Hồi con bắt đầu đi học chương trình đào tạo Phó Tế, con đã nghĩ rằng con người tội lỗi của con với khả năng hạn hẹp của mình, nhất là vấn đề ngôn ngữ tiếng Anh, tuổi đã cao, ( lúc bắt đầu đi học con 53 tuổi) làm sao con có thể sánh với các vị Luật Sư, Chánh Án, Kỹ Sư người Mỹ cùng lớp. Con đã không dám nghĩ là một ngày con sẽ được chịu chức Phó Tế cả. Thế rồi Chúa quảng đại vô cùng Người đã cho con được chịu chức sau 7 năm lẽo đẽo theo Người với biết bao khó khăn.
Một lần nữa, trông cậy vào lòng quảng đại vô cùng của Chúa mặc dù chỉ là một con người quá tội lỗi con đã cả gan có ý định thành lập Cộng Đoàn Teresa. Con đã mạnh dạn đệ đơn lên Đức Tổng Giám Mục của con ở Portland là John G. Vlazny vào năm 2005 để tường trình về hoạt động của Quỹ Từ Thiện Teresa và xin ngài cho phép thành lập Gia Đình Teresa. Đồng thời con gửi thư đến ân nhân cũng như nói chuyện trên các Đài Phát Thanh mời gọi mọi người tham gia Gia Đình Teresa để phục vụ các cụ. Điều con hạnh phúc là có rất nhiều vị đã điền đơn xin gia nhập. Ở Mỹ có 2 gia đình chính: Gia đình Teresa Portland, Gia Đình Teresa Houston, hai Gia Đình này có sinh hoạt thường xuyên, đặc biệt gia đình Teresa Houston hàng năm đều có buổi gây quỹ lớn rất thành công. Ngoài ra còn có các gia đình Teresa ở Dallas, Texas, gia đình Teresa Tennessee, gia đình Teresa Lafayette.
Cùng thời gian này con cũng gọi điện thoại về Việt Nam trao đổi với Linh Mục Antôn Vũ Đức Tú ở Thanh Hoá, với sơ Mary Nguyễn Thi Thu Hương ở Phú Nhai các vị rất phấn khởi và vui mừng cộng tác. Tiếp đó gia đình Teresa Thái Bình, gia đìnhTeresa Dalat cũng được thành lập. Con cũng trao đổi với Linh Mục Nguyễn Trọng về việc thành lập Gia Đình Teresa Huế và ngài đã giới thiệu con với anh Lê Văn Quý rồi sau đó đến chị Mỹ Nương. Quá trình thành lập gia đình Teresa ở các giáo xứ sẽ được giới thiệu ở các phần sau.
Con phục vụ giáo xứ Our Lady of Sorrows ở Portland, Oregon Hoa Kỳ, ở đây có cộng đồng người Philippines rất nhiệt thành. Qua các bạn Philippines này con đã có dịp đi đến những xóm thật nghèo ở ngoại ô Manilla, từ các thiện nguyện viên cộng tác đặc biệt là chị Lisa Arnaldo, Gia Đình Teresa Philippines đã được thành lập và làm việc rất hữu hiệu. Hiện đang có 3 Thành Viên Teresa Việt Nam phục vụ tại đây.
Điều hạnh phúc nhất là sau thời gian mấy năm trao đổi qua lại nhiều bức thư cuối cùng Đức Tổng Giáp Mục John G. Vlazny đã ký nghị định công nhận Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng Giê Su vào ngày 8 tháng 12 năm 2009 đúng vào dịp Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Đây là một tin vui thật bất ngờ bởi vì con cứ nghĩ rằng phải ít nhất 20 năm mà nay chưa tới 5 năm Gia Đình Teresa đã được công nhận!. Đây chính là căn cứ là bước khởi đầu quan trọng để gia đình Teresa có thêm sức mạnh để vươn xa hơn nữa.
Chỉ hơn một tháng sau Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn đã công nhận cho Gia Đình Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu được hoạt động tại giáo phận Đàlạt ngày 12 tháng 1 năm 2010.

Tiếp đến Đức Tổng Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể công nhận tại Huế ngày 6 tháng 8 năm 2011.

Đức Giám Mục Giuse Hoàng Văn Tiệm công nhận tại Bùi Chu ngày 1 tháng 10 năm 2011

Và đặc biệt nhất Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã công nhận tại Thanh Hoá ngày 17 tháng 11 năm 2011 và ngài cho phép các Thành Viên Teresa được mặc Đồng Phục và Tuyên Hứa 3 Lời Khuyên Phúc Âm!.

Đến Thánh Lễ 30 tháng 10 năm 2012, Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã gọi Gia Đình Teresa Thanh Hoá là Tu Đoàn Tông Đồ. Ngài cũng đã ưu ái trao cho Gia Đình Teresa Thanh Hoá khu Nhà Thờ Quần Xá để làm cơ sở.

Đây quả là tin vui lớn cho không những thành viên Gia Đình Teresa Thanh Hoá mà còn cho cá các ThànhViên Teresa khắp nơi.
Thêm một đặc biệt nữa là trong buổi tiếp kiến Phó Tế Vũ Thành An và Sơ Mary Nguyễn Thị Thu Hương vào lúc 8 giờ sáng ngày 2 tháng 11 tại Toà Giám Mục Bùi Chu, Đức Giám Mục Giuse Hoàng Văn Tiệm đã cho phép Thành Viên Teresa Bùi Chu được mặc Đồng Phục và Tuyên Hứa 3 Lời Khuyên Phúc Âm, ngay sau đó ngài đã dẫn đi để trao cho Gia Đình Teresa một khu nhà lớn ở Nghĩa Dục làm cơ sở sau đó ngài đã chuyển cơ sở Teresa về Giáo Xứ Phương Chính.
Mặc dù trên giấy tờ công nhận ở Thanh Hoá cũng như ở Bùi Chu, Gia Đình Teresa chỉ là một hiệp hội nhưng qua sự cho phép không chính thức của các Đúc Giám Mục thì Gia Đình Teresa đã là một Tu Đoàn Tông Đồ, có nghĩa là Cộng Đoàn Tu Sỹ.
Xưa kia vào năm 1209 đức Giáo Hoàng Inocent III đã chấp nhận không chính thức Dòng Anh Em Hèn Mọn của Thánh Phanxicô ( chưa có nghị định) nhưng cho phép Tonsure ( mặc Tu Phục và cạo đầu) với ý rằng khi nào có nhiều thêm Ơn Gọi sẽ được công nhận chính thức. Điều này đã xảy ra vào ngày 16 tháng 4 năm 1210.
Từ việc thành lập Dòng Anh Em Hèn Mọn trong truyền thống Giáo Hội ( chưa có nghị định nhưng cho phép Mặc Tu Phục ) Gia Đình Teresa tin tưởng chắc chắn rằng sẽ có Nghị Định chính thức công nhận Gia Đình Teresa là một Tu Đoàn Tông Đồ trong tương lai. Các chị em đang thực sự sống, được đào tạo và phục vụ giống như một Cộng Đoàn Tu Sỹ của Giáo Hội Công Giáo.
Ngày 29 tháng 4 năm 2013 Đức Tân Tổng Giám Mục Portland ( kế vị Đức Tổng Giám Mục John G. Vlazny) Alexander K. Sample đã ký Văn Thư có nội dung như sau:

Qua văn thư quan trọng này có 2 điều đáng chú ý:
Cơ quan Teresa Charities ( Quỹ Từ Thiện Teresa) trực thuộc Gia Đình Teresa.
Quỹ Từ Thiện Teresa được phép nhận người từ Vietnam sang làm việc.
Đây là những điều căn bản giúp cho Gia Đình Teresa được phát triển lớn mạnh trong tương lai.
Xin Chúa chúc lành cho Gia Đình Teresa.
Ngày 27 tháng 5 năm 2013.
Việc Tuyên Hứa của 7 Thành Viên của Gia Đình Teresa Thanh Hoá đưoơc diễn ra thật tốt đẹp trong Thánh Lễ vào lúc 9 giờ sáng ngày 17 tháng 11 năm 2011. Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám Mục Giáo Phận Thanh Hoá đaãđích thân đến Chủ Tế, Làm Phép Lúp và chứng kiến các chị Tuyên Hứa. Đức Cha Giuse đã nói trong Thánh Lễ đây là một ngày Lịch Sử vì đã khai sinh ra Gia Đình Teresa Thanh Hoá- Cộng Đoàn Tận Hiến .

Từ việc Tuyên Hứa tốt đẹp này chỉ ít ngày sau nhiều chị em ở các Cộng Đoàn Tu Sỹ khác đã đến Gia Nhập Gia Đình Teresa. Các chị đã được sống, huấn luyện để chuẩn bị cho kỳ Tuyên Hứa năm kế tiếp đó là năm 2012. Vì có một số chị tại Dòng Đa Minh Thái Bình đã rời bỏ cộng đoàn mình và sang Gia Đình Teresa khiến Đức Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Đệ Giám Mục Thái Bình đã gọi điện hỏi Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh về Gia Đình Teresa. Thánh Lễ Tuyên Hứa của Gia Đình Teresa được ấn định vào 8 giờ sáng ngày 30 tháng 10 năm 2012 thì chiều ngày 27 tháng 10 khi con đang ở Hànội một ngày sau Kỳ Tĩnh Tâm cho các chị tại Đan Viện Châu Sơn, con nhận được điện thoại của Cha Antôn Vũ Đức Tú gọi nói Đức Giám Mục Giuse muốn trao đổi việc cần vào sáng ngày hôm sau ( ngày 28 tháng 10). Con biết chắc là có vấn đề trở ngại rồi. Con đã vội vàng trở lại Giáo Xứ Thượng Chiểu ngay tối hôm đó trong khi trời đổ mưa lớn. Sáng hôm sau cha Tú và Con tới Toà Giám Mục Thanh Hoá trong khi nơi này đang làm những gíá đỡ các cây trong khuôn viên Toà Giám Mục để chuẩn bị cơn bão lớn tới.
Đức Cha Giuse có cho chúng con biết Đức Cha sẽ chỉ cho Tuyên Hứa chị nào ở ngoài địa phận Thanh Hoá nếu có giấy cho phép của Đức Giám Mục bản quyền. Và về sau này Đức Cha sẽ chỉ nhận những chị nào có Hộ Khẩu tại Thanh Hoá mà thôi. Trong số các chị được chuẩn bị Tuyên Hứa vào ngày 30 tháng 10 có 2 chị ở Địa Phận Bùi Chu và 3 chị tại Địa Phận Thái Bình.
Chiều hôm đó trời mưa rất to và con cũng đang bị sốt và đau lưng nằm nghỉ tại Thượng Chiểu. Nhà không có điện trong khi điện thoại của con gần hết Pin. Con đã gọi điện thoại thông báo cho các chị tin không vui này. Các chị chỉ có biết khóc thôi. Làm sao có được chữ ký của Đức Giám Mục khi chỉ còn có một buổi chiều tối ngày 28 và trọn ngày 29. Con đã gọi các chị khuyến khích hãy mạnh mẽ lên, thầy cho tiền xe , hãy về ngay các Địa Phận để xin chữ ký Đức Giám Mục. Trong mưa bão lớn các chị đã lên đường. 2 chị Duyên và Sen về Bùi Chu tối ngày 28 , Đức Giám Mục Tiệm đã vui vẻ tiếp các chị và hứa sáng mai 28 tháng 10, lúc 8 giờ trời sáng Đức Cha sẽ ký cho. Riêng 3 chị ở Thái Bình : Mơ, Giang, Xuyến thì bị kẹt trong cơn bão, tối ngày 28 phải tá túc tại nhà dân. Nằm tại Thượng Chiểu con theo dõi diễn tiến từng chị và chỉ còn biết cầu xin Chúa thương xót. Cũng may điện thoại của con còn pin để biết được tin tức của các chị vẫn được bình yên trong cơn bão. Sáng hôm sau 29 các chị vào Toà Giám Mục Thái Bình xin chữ ký cho phép các chị Gia Nhập Gia Đình Teresa. Đức cha Phêrô cũng cho gặp nhưng ngài nói các chị chỉ cần chữ ký của cha Xứ là đủ. Các chị lại đội mưa về các xứ và xin sự đồng ý của các cha để được chuyển sang Gia Đình Teresa. Cuối cùng thì các chị cũng nhận được chữ ký vào trưa ngày 29 và vội vã lên xe về Thượng Chiểu để kịp Tuyên Hứa vào sáng ngày hôm sau 30 tháng 10. Khi xe các chị gần tới Thượng Chiểu lúc đó khoảng 9 giờ tối con nhận được điện thoại của Đức Cha Linh nói rằng Đức Cha Đệ không ký có nghĩa là ngài không hài lòng cho nên ngài khuyên các chị ở Thái Bình kiên nhẫn trong một năm, năm sau nhập Hộ Khẩu ở Thanh Hoá thì không có gì trở ngại. Khi xe các chị tới, nọi người đang vui mừng hớn hở đến khi được tin 3 chị gốc Thái Bình chưa được tuyên hứa thì nước mắt đổ như mưa. Con chỉ biết an ủi và khuyên các chị kiên nhẫn vâng lời.
Thánh Lễ Tuyên Hứa sáng hôm sau đã diễn ra tốt đẹp. Đức Cha Linh trong bữa tiệc mừng ngài đã dùng chữ Tu Đoàn Tông Đồ khi nói với con về Gia Đình Teresa. ( Có nghĩa là dù trên giấy tờ ngài mới chỉ công nhận Gia Đình Teresa là một Hiệp Hội nhưng trong tim Đức Cha, ngài đã coi chúng con là Cộng Đoàn Tu Sỹ ).
Trong lòng con ngày hôm ây không thể vui trọn vẹn vì con thông cảm với nỗi buồn của 3 chị không được tuyên hứa. Con xin Chúa soi sáng cho con làm cách nào cứu các chị. Các chị vì tin tưởng ở Gia Đình Teresa cho nên đã rời bỏ Dòng Đa Minh là một Hội Dòng Tu Sỹ đã có từ lâu đời. Bây giờ có trở lại Dòng Đa Minh cũng không được và việc Tuyên Hứa sang năm trong Gia Đình Teresa cũng chưa chắc đã thành hiện thực. Con cũng thông cảm với sự mất mát của Dòng Đa Minh. Mấy Nữ Tu đã được đào tạo lâu năm trong Dòng nay ra đi một lúc. Thế nhưng sự việc xảy ra đã đẩy các chị vào hoàn cảnh thât lỡ làng. Cuộc đời tận hiến của các chị sẽ đi về đâu?. Xét cho cùng việc gia nhập Gia Đình Teresa là do tự nguyện của các chị. Các chị chỉ mới Khấn Tạm và thời gian Khấn Tạm một năm đã chấm dứt. Các chị không có sự ràng buộc nào nữa.
Sáng ngày hôm sau 1 tháng 11 năm 2013 con rời Thượng Chiểu về Phú Nhai Bùi Chu. Con có nhờ Sơ Thu Hương xin được gặp Đức Giám Mục Giuse Hoàng Văn Tiệm, ngài đồng ý cho gặp vào 8 giờ sáng hôm sau 2 tháng 11 năm 2013.
Sau đôi lời chào hỏi, con đã xin ngài cho phép các em Gia Đình Teresa Bùi Chu được mặc Đồng Phục và Tuyên Hứa 3 Lời Khuyên Phúc Âm, không một chút do dự ngài đã vui vẻ nhận lời ngay và sau đó đưa chúng con về Giáo Xứ Nghĩa Dục trao cho cơ sở tại đây. ( Sau đó ít tuần ngài đã chuyển sang trụ sở Phương Chính.)

Trứơc khi từ giã Đức Cha chiều ngày 2 tháng 11 ( sau khi dùng bữa trưa tại Nghĩa Dục) con đã hẹn với Đức Cha là năm sau con sẽ về giới thiệu với Đức Cha các Thành Viên Gia Đình Teresa với Đồng Phục và Lời Tuyên Hứa. Đó là lần cuối cùng con được gặp Đức Cha. Con kính xin Đức Cha ở trên Thiên Đàng cầu nguyện Chúa cho Gia Đình Teresa Bùi Chu là Di Sản của ngài được luôn vững vàng và phát triển.
Sau khi được phép của Đức Giám Mục Giuse Hoàng Văn Tiệm con đã cho một số chị ở Phủ Lý được mặc Đồng Phục và Tuyên Hứa 3 Lời Khuyên Phúc Âm trong đó có 3 chị Mơ, Giang, Xuyến là các chị không được Tuyên Hứa tại Thanh Hoá.
Sau biến cố này nhiều người nhắc lại cho con tư tưởng không nên nhận các Ơn Gọi đến từ Cộng Đoàn khác bởi vì chắc là có vấn đề gì đó mà các Ơn Gọi này đã rời Cộng Đoàn Cũ của mình.
Con lại ý kiến khác: Trước hết con muốn nâng đỡ cho họ có một cơ hội nữa để tận hiến cuộc đời họ trong một Cộng Đoàn thích hợp.
Chúng ta không ai toàn vẹn, không ai không có vấn đề này nọ, theo con nếu Ơn Gọi nào còn muốn dâng hiến và nhất là còn sống Đức Vâng Lời, chịu sự tái huấn luyện thì vẫn có thể sống bình an trong Gia Đình Teresa.
Các Ơn Gọi từ các Cộng Đoàn cũ ít nhất đã từng trải trong đời Dâng Hiến, đã được huấn luyện, là một tài sản quý giá đáng trân trọng.
Từ khi thành lập năm 2005 cho đến nay 2014 tổng kết lại có 1/3 Ơn Gọi phải rời Cộng Đoàn sau khi sống trong Gia Đình Teresa một thời gian vì không thích hợp cách nào đó. Còn lại 2/3 vẫn tiếp tục sống tốt. Như vậy quả thực Gia Đình Teresa đã vừa giữ được Ơn Gọi cho Chúa vừa phát triển được Cộng Đoàn còn non trẻ cần những người đã có kinh nghiệm.
Sau đợt Tuyên Hứa năm 2012, Gia Đình Teresa Thanh Hoá đã chính thức nhận khu nhà Quần Xá – Giáo Xứ Quần Xá cũ gồm ngôi Nhà Thờ, Nhà Xứ và Nhà Dòng. Ngôi nhà thờ trước đây bị thời gian làm xuống cấp, mất Tháp Chuông và mái ngói cũng như vách tường bị hư hại rất nhiều. Gia Đình Teresa đã trùng tu lại nhờ một số ân nhân đóng góp:

Sau khi Gia Đình Teresa Thanh Hoá tiếp nhận Nhà Thờ Quần Xá thì Gia Đình Teresa Phủ Lý cũng nhận thêm nhiều Ơn Gọi. Đức Cha Giuse Hoàng Văn Tiệm đã chấp nhận cho có một Khoá Huấn Luyện Chuyên Biệt 3 tháng tại Phú Nhai để em nào có đủ điều kiện sẽ được Tuyên Hứa. Ngày 11 tháng 8 năm 2013 Thành Viên Gia Đình Teresa từ Việt Nam đầu tiên đã đến Mỹ làm việc cho Quỹ Từ Thiện Teresa đó là Chị Maria Hoàng Thị Lụa.
Đáng lẽ con đã không có chương trình về Việt Nam năm 2013 nhưng nếu con không về thì nhiều Ơn Gọi sẽ chưa thể Tuyên Hứa được cho nên con đã cố gắng sắp xếp để về vào cuối tháng 10 năm 2013. Sau ký Tĩnh Tâm các em đã được Tuyên Hứa trong một Thánh Lễ do Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt Chủ Tế tại Đan Viện Châu Sơn ngày 30 tháng 10 năm 2013:
Con cũng muốn sau khi Tuyên Hứa các em có một Thánh Lễ để cùng Gia Đình vui mừng nên con có ngỏ ý nói các em xin Cha Xứ Phủ Lý dâng một Thánh Lễ Tạ Ơn đồng thời phát quà cho các cụ trong ngày Lễ Các Thánh 1 tháng 11. Cha Xứ Phêrô Bùi Ngọc Tuấn đã xin phép Đức Tổng Giám Mục Pherô Nguyễn Văn Nhơn dâng một Thánh Lễ Đồng Tế nhân dịp con được 70 tuổi. Đức Tổng Nhơn đã nhận lời xin của các em Teresa qua cha Chánh Xứ và đây thật là món quà lớn lao cho Gia Đình Teresa Phủ Lý và cá nhân một người bất xứng như con. Nếu chỉ riêng cho một mình cá nhân con thì con đã không dám nhận Ơn lớn này nhưng vì nếu không có Thánh Lễ Tạ Ơn thì các em mới Tuyên Hứa sẽ không được mừng ngày trọng đại của các em.

Sáng nay ngày 29 tháng 11 năm 2013 lúc 10 giờ trong buổi gặp gỡ với cha Angelito và Lisa tại Claretian Missionaries Curia, Quezon City, cha Lito đã đề nghị con viết Tự Thuật. Trước đó , tối ngày 28 cha Educ cũng đề nghị với con tương tự như vậy ở Teresa House Quezon City. Trong quá khứ cũng có nhiều thân hữu bảo con hãy viết xuống câu truyện đời mình, đặc biệt Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Như Thể trong buổi gặp gỡ con, anh Nguyễn Văn Quý và chị Mỹ Nương tại Huế đã nhắc nhở việc này. Trong cuộc đời con có được hân hạnh gặp gỡ nhiều vĩ nhân trong đó có Đức Tổng Thể. Con nhớ mãi lần con về Huế đầu tiên khoảng năm 2005, chính Đức Tổng Thể đã đến dự bữa cơm thân mật với chúng con và các cụ cao niên tại Giáo Xứ Phủ Cam, hôm đó ngài còn hát nữa!. Trước sự nhắc nhở con đã lần lữa mãi chưa thể viết được vì công việc cứ mỗi ngày chồng chất giải quyết không kịp. Thế như nay con sẽ vâng lời viết lại tất cả những diền tiến trong công cuộc xây dựng Gia Đình Teresa.
Con sẽ viết theo dạng Nhật Ký để dễ dàng theo dõi theo diễn tiến thời gian.
Đây là những việc quan trọng đã xảy ra trong chuyến đi từ ngày 22 tháng 10 năm 2013
Vì Hiệp Hội Gia Đình Teresa đã được chính thức công nhận tại Mỹ và Việt Nam và Quỹ Từ Thiện Teresa đã có hoạt động không những tại Mỹ và Việt Nam mà còn hiện diện tại Philippines, Tanzania, Colombia cho nên chúng con có nguyện vọng thành lập Hiệp Hội Quốc Tế Gia Đình Teresa Hài Đồng GiêSu. Con đã bầy tỏ nguyện vọng này với Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt tại Đan Viện Châu Sơn Ninh Bình chiều ngày 27 tháng 10 năm 2013 và ngài đã chỉ cho con phương cách để nguyện vọng này thành sự thực: chuẩn bị kỹ lưỡng bản Quy Chế và hãy xin thành lập Nhà Mẹ tại Tổng Giáo Phận Hà Nội hay Giáo Phận Thanh Hoá.

Lúc 4 giờ chiều ngày 27 tháng 10 năm 2013 tại Đan Viện Châu Sơn, Ninh Bình.
Chúng con đã được gặp Đức Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn vào chiều ngày 5 tháng 11 tại Toà Tổng Giám Mục Hà Nội, ngài đã ủng hộ nguyện vọng thành lập Hiệp Hội Quốc Tế Gia Đình Teresa , ngài đã chỉ dạy con phương hướng hoạt động và giới thiệu con về xin Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám Mục Giáo Phận Thanh Hoá là Giám Mục đương nhiệm cho phép đặt Nhà Mẹ tại Thanh Hoá.

Sáng ngày 7 tháng 11 sau khi nghe con trình bầy nguyện vọng cũng như sự giới thiệu của hai Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt và Đức Tổng Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Đức Giám Mục Giuse Nguyễn Chí Linh đã cho phép chúng con bắt đầu tiến trình xin Toà Thánh Vatican chấp nhận nguyện vọng này.

Trưa ngày 8 tháng 11, cha Antôn Vũ Đức Tú, Linh Mục Đặc Trách Gia Đình Teresa tại Thanh Hoá và con đã được gặp Đức Giám Mục Nguyễn Văn Đệ là Giám Mục phụ trách các Dòng Tu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam tại Toà Giám Mục Thái Bình. Sau khi chúng con trình bầy tiến trình nêu trên Đức Cha Nguyễn Văn Đệ đã tận tình chỉ dạy chúng con phương cách tổ chức và huấn luyện tốt một Cộng Đoàn Tu Sỹ.

Ngày 13 tháng 11 vào lúc 16 giờ 30 chúng con đã được gặp Đức Tổng Giám Mục Phanxicô Savier Lê Văn Hồng, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế, ngài cũng ủng hộ nguyện vọng thành lập Hiệp Hội Quốc Tế Gia Đình Teresa và ngài đã quan tâm nhiều đến việc huấn luyện các thành viên và ngài sai con trình lên ngài thành phần nhân sự để ngài chính thức bổ nhiệm Linh Hướng cho Gia Đình Teresa Huế.

Lúc 9 giờ sang ngày 14 tháng 11. Đức Tổng Giám Mục Nghỉ Hưu Têphanô Nguyễn Như Thể đã nhận lời trực tiếp Điều Hành Gia Đình Teresa Huế và cũng nhận lời sẽ là Cố Vấn cho Hội Đồng Linh Hướng của Hiệp Hội Quốc Tế Gia Đình Teresa.

Trưa ngày 15 tháng 11 tại Giáo Xứ An Truyền Huế ( lúc này VTA đang bắt đầu bị sốt vì đau bụng – đang bị đi ngoài xấu, có lẽ thức ăn bị nhiễm trùng)
Sau khi phát quà tại An Truyền buổi trưa, mặc dù con đang lên cơn sốt, không phải vì cảm nhưng chắc lại tại bị bị ngộ độc thực phẩm, lúc 4 giờ chiều con vẫn tiếp tục lên đường đi phát quà tại Giáo Xứ Kim Đôi như đã dự tính. Trước đó vào buổi trưa con đã điện thoại cho cha Trần An xin cha cho hoãn lại việc đến thăm của con vào ngày hôm sau bởi vì con nghĩ rằng sức khoẻ của con không cho phép đi thêm một ngày dài nữa.
Khởi hành từ Toà Giám Mục Huế đi Kim Đôi lúc trời đang mưa lớn. Trên đường đi nước đã bắt đầu ngập mấp mí đường, nhất là từ khúc ven sông. Trong Thánh Lễ con đã sốt run , ngồi không còn muốn vững nữa. Con đã cầu nguyện xin Chúa cho con hoàn thành cuộc hành trình, vì sau Huế con còn nhiều công việc tại Saigon và còn cuộc viếng thăm Philippines từ ngày 24 đến 30 tháng 11). Sau Thánh Lễ lúc 6 giờ con đã vội vã xin về mặc dù Cha Xứ và quý ông bà cụ muốn mời con ở lại dùng bữa cơm thân mật. Trên đường về mưa càng lớn hơn và nước đã dâng cao. Nhiều xe hơi đã chết máy dọc đường. Con đã nói với anh chị em trong chuyến đì là: ” Chúng ta hãy đi trong Đức Tin”. Xe đi như đi trên sông. Nước đã tràn vào sàn xe nhưng lạ lùng sao xe vẫn chạy, ngay cả vào đoạn đường gần Toà Giám Mục, không có một chiếc xe nào ngoại trừ chiếc xe của chúng con. Tới Toà Giám Mục con đã cố leo cầu thang đến trứơc cửa phòng. Con tưởng đã ngất xỉu tại đây nhưng cố gắng mở được cửa vào được trong phòng. Con đã gọi điện xin Cha Vinh Sơn Trần Văn Đường Dòng Thánh Tâm Huế nằm ngay cạnh Toà Giám Mục cho anh em đến đo áp huyết của con xem có xuống quá mức nguy hiểm hay không. Cha Đường đã tới ngay với anh Vỹ và sau đó anh Vỹ đã lội nước đi mua thuốc cho con ( lúc đó Huế đã lụt cao ) Khuya hôm đó rất may con đã hạ sốt. Chúa đã cứu con khỏi cơn nguy hiểm vì nếu xe con tắt máy dọc đường, bị tắc lại đêm đó giữa cánh đồng nước, không biết con có sẽ ra sao?

Ngày 25 tháng 11 khi con đã sang Philippines sau khi rời Việt Nam vào trưa ngày 24 tháng 11 con nhận được email sau đây của Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh

Thầy An thân mến,
Hôm nay đã là ngày 25-11. Như vậy thầy đã ở Philippines rồi. Tuy đã xa, nhưng cũng xin chúc mừng thầy đã có một chuyến đi VN thành công và chắc chắn là nhiều kỷ niệm. Nhất là thầy đã được Đức Tổng Thể ủng hộ hết mình.
Nhân tiện cũng xin được trao đổi với thầy về vđ Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề cập trong cuộc họp vừa qua. Một cách cụ thể, xin thầy nghiên cứu lại với các gia đình Têrêxa để thay đổi y phục. Có lẽ không nên mặc áo có hình thù áo nữ tu. Chúng ta có quyền mặc đồng phục nhưng không nên mặc áo dành cho tu sĩ. Vì ngay trong địa phận Thanh hoá cũng có dư luận phức tạp về y phục của các em gia đình Têrêxa.

Vấn đề thứ hai là vấn đề lời tuyên hứa. Cần phải nhắc nhở các thành viên đừng bao giờ dùng từ ngữ “khấn” để áp dụng cho mình, vì thật ra không phải là dòng hoặc tu hội được Toà Thánh công nhận thì không thể khấn. Thầy nên dặn các em dùng chữ “tuyên hứa” thôi.

Cầu chúc thầy chuyến đi Philippines cũng thành công và nhiều may mắn nhiều hơn chuyến đi VN.

Hẹn gặp lại thầy.
Giuse Linh

Buổi chiều ấy con đã suy nghĩ lung lắm, sau đó con trả lời cho Đức Cha Giuse như sau

Kính thưa Đức Cha,

Chúng con xin vâng lời sự dạy dỗ của Đức Cha. Chúng con sẽ thi hành ngay. Chúng con tin tưởng rằng Đức Cha đã có chương trình tốt đẹp cho chúng con trong thời gian sắp tới.

Con đến Manila tối hôm qua và hôm nay đã đến trình diện Đức Cha Địa Phận Quezon City. Đây là lần thứ ba con gặp ngài, ngài rất hỗ trợ và cám ơn Gia Đình Teresa đã giúp giáo dân của ngài suốt 8 năm qua.
Chiều nay chúng con có cuộc gặp gỡ và phát quà cho gần 300 cụ già. Ngày mai con sẽ đi thăm vùng trung tâm cơn bão Hải Yến vừa qua.

Con kính chúc Đức Cha luôn vui mạnh.
Con, Vũ Thành An

Và con cũng đã email cho cha Anton Vũ Đức Tú

Thua cha,

Con da tra loi voi Duc Cha la chung con se thi hanh ngay, vay xin cho thong bao cho cac chi thoi khong mac ao cu nua.
Tam thoi cac chi mac ao dai xanh dam nhu truoc day cac chi van mac, cong them huy hieu Teresa; Thanh Gia co Hoa Hong deo ngay giua nguc truoc tran thuy., nhu vay vua don gian vua cung chi ro la cac chi dang song doi On Goi. Cha cho chi nao mac thu xem co duoc khong roi noi tat ca cac chi con lai cung mac nhu vay. Dieu nay ap dung cho ca chi Nu o Thai Binh, chi Mach va Thuy o Bui Chu vi cac chi da Tuyen Hua o Thanh Hoa
Xin cha an ui cac chi va cac chi hay tin tuong rang Duc Cha Linh cung da co chuong trinh tot dep cho cac chi sau nay. Hay cu mau man thi hanh y chi cua cac Duc Giam Muc , sau nay the nao cac chi cung se duoc chinh thuc cong nhan la Tu Sy thoi. Chung ta can phai chiu them mot thoi gian thu thach nua.
Khi thay doi kieu ao khong co nghia la thay doi doi On Goi vi cac ngai van chap nhan loi Tuyen Hua cua cac chi.
Cha noi cac chi cu am tham thi hanh lenh cua Duc Giam Muc, neu co ai hoi tai sao thay doi kieu ao thi tra loi la chung con Vang Loi Duc Giam Muc.
Con dang o Phi nen khong goi ve duoc, khi nao ve lai My se dien thoai trao doi them voi cha sau.
Sau khi nhan email nay cha cung nen goi dien tham Duc Cha de xac nhan se thi hanh nhanh chong lenh cua ngai.
Xin Chua chuc lanh Gia Dinh Teresa.

Vu Thanh An

Con đến Phi tối ngày 24 tháng 11 và đã quyết định có sự thay đổi trong lịch trình là sẽ dành thời gian thăm vùng bị thiệt hại của cơn bão khủng khiếp Hải Yến đã khiến 5 ngàn người chết, nhiều ngàn người mất tích và thiệt hại vật chất thì vô kể.
Sáng 25 tháng 11 lúc 10 giờ chúng con viếng thăm Đức Cha Ongtioco thuộc Cubao Diocese, cùng đi có Cha Angelito, Lisa và thành viên nhóm Age Legacy Ministry của Giáo Xứ . Con đã ngỏ ý đóng góp 80 ngàn Pesos – tương đương 2 ngàn US Dollar trong nỗ lực cứu trợ nạn nhân bão lụt của ngài Đức Cha một lần nữa bầy tỏ lòng biết ơn của dân tộc Phi với sự quảng đại của đồng bào Việt Nam tại hải ngoại mà con là đại diện.

Đức Giám Mục Cubao Ongtioco và Cha Angelito

Đức Cha Cubao Ongtioco và Lisa Arnaldo – FAST Co ordinator
Buổi chiều chúng con có cuộc phát quà cho trên 200 cụ già.

Gia Đình Teresa Philippines 2013
Sáng sớm ngày 26 con và Lisa đã lên đường đi thăm vùng bão lụt. Đáp máy bay từ Manila lúc 7 giờ sáng, đến Cebu lúc 8 giờ 30 , chờ để lấy vé tàu đi Ormoc lúc 1 giờ trưa, đến Ormoc đã hơn 4 giờ chiều, trời đầy mây mù. Lên tới bến cảng con thấy thành phổ thiệt hại nặng, không nhà nào không bị ảnh hường, đặc biệt tất cả các cây đều trụi lá hết. Giây điện còn đứt và vung vãi nhiều nơi. Cha Rene đi đón nói phải cả tháng nữa cũng chưa chắc có điện lại.

Chúng con định ngày hôm sau 27 sẽ đi Tacloban là nơi trung tâm bão nhưng không thể về kịp chuyến máy bay 7 giờ tối tại Cebu vì thời gian từ Ormoc tới Tacloban phải mất 3 đến 4 tiếng đồng hồ.
Trời đã gần tối cha Rene vội vã đưa chúng con đi thăm một số nơi trên vùng đồi núi chung quanh Claretian Mission House. Thật là một cảnh tương tiêu điều, tất cả mọi nhà đều bị tốc mái, người dân không còn gì để ăn, phụ thuộc hoàn toàn vào thực phẩm cứu trợ. Cả một vùng rộng lớn tất cả mọi cây đều bị trốc lá hết. Người ta kể rằng ở vùng này cũng có nhiều người chết vị bị cây đè.
Các cha Claretian ngỏ ý chúng con nên cứu giúp những cụ già ở nơi này và từ đó con chợt nảy ra ý nghĩ là sẽ nhờ các cha Claretian ở khắp nơi giúp Teresa đến giúp các cụ ỏ nơi đó. Con đã bắt đầu có giấc mộng là nơi nào có Claretian là nơi đó có Teresa. Hiện Claretian đã có mặt trên gần 70 quốc gia trên thế giới.
Con đã bầy tỏ giấc mộng này cho cha Educ và cha Lito, hai ngài rất ủng hộ và cha Educ hứa giúp liên lạc để ngay Noel 2013, các cụ ở East Temor va Bắc Ấn Độ sẽ có quà của Teresa.
Sau khi con bầy tỏ ý kiến là tạm thời ngưng xây dựng Cộng Đoàn Tu sỹ Teresa , tạm ngưng gủi các em Tu Sỹ Teresa từ Việt Nam qua mà chú ý nhiều vào xây dựng Hiệp Hội Quốc Tế Teresa, cha Educ và cha Lito đã đồng ý sẽ hỗ trợ nỗ lực này và nhận lời sẽ ở trong Board of Spiritual Directors.
Nếu sau này có thêm được hoạt động ở vài quốc gia khác trong vùng thì cha Educ và Lisa sẽ đảm đương nhiệm vụ điều hành.
Cha Lito sẽ giúp để xin Đức Cha Địa Phận Cubao ( Quezon City) chính thức công nhận Hiệp Hội Teresa. Để được dễ dàng chấp nhận cha Lito và Lisa đề nghị là cần phải có một căn nhà ở nơi không bị giải tỏa, chúng con đã đông ý sẽ tìm mua trả góp một căn nhà nhỏ để làm trụ sở ban đầu cho Teresa.
Chúng con cũng hy vọng có thể tổ chức được một Nghị Hội –Assembly- cho Teresa vào Mùa Phục Sinh năm 2015 tại Philippines vì nơi này có đủ điều kiện hơn Mỹ và Việt Nam.
Ngày 28 tháng 11 con được hội kiến với Đức Giám Mục Địa Phận Novaliches Tobias

Buổi tối cùng ngày con được các thành viên Age Legacy Ministry giáo xứ Immaculate Heart Saint Mary Parish, và cha Chánh Xứ Angelito đến hát tặng bài Carol đầu tiên của mùa Christmas 2013. Đây là một hân hạnh quá bất ngờ cho một con người tội lỗi như con:

Cảm tạ Chuá.
Về tới Mỹ con tiếp tục vận động cho việc giúp đỡ Phi ở Giáo Xứ Our Lady of Sorrows, các cộng đoàn Việt Nam ở các Giáo Xứ St. James, Vancouver Washington, St. Stephen, Portland Oregon và Immaculate Heart Portland , Oregon. Các giáo dân đã tham gia nhiệt tình và số tiền thu được đã giúp lợp lại mái của mtộ số Nhà Nguyện cũng như giúp gạo cho các nạn nhân cơn bão Hải Yến:
Appreciation from Ormoc YouTube
Sáng Mùng Một Tết Giáp Ngọ ( 31 tháng 1 năm 2014) con nhận được email từ cha Vũ Đức Tú:
From: TU VU DUC <vuductu@hotmail.com>
To: an Vu <vuthanhan@yahoo.com>
Sent: Friday, January 31, 2014 8:00 AM
Subject: RE: Tet cho cac cu.

Kinh chao thay,
Cau chuc thay tuoi moi cang them suc luc va tinh than minh man de luon mang lai cho cac cu niem vui tuoi gia.
Hai bua nay goi dien chuc Tet thay nhung thay khong nghe may.
Cam on thay da gui tien Tet cho cac cu. Chi Mac va Xinh da phat cho cac cu truoc tet.
Hom em va mot so chi gia dinh Teresa di Tet Duc Cha. Em co dat van de xin Duc Cha cho gia dinh Teresa duoc nang len thanh Tu Doan Tong Do. Ve co ban ngai dong y. Ngai noi neu Giao luat cho phep thi minh cu lam. Sau tet, em se lam don de ngai phe chuan.
Kinh thay
Vu Duc Tu
Đây là tin vui lớn cho Gia Đình Teresa. Con đã nói với người thân: Bây giờ con ra đi được rồi!.

Vào 05:59 Ngày 02 tháng 02 năm 2014, an Vu <vuthanhan@yahoo.com> đã viết:

Trọng Kính Đức Cha,

Đầu năm mới Giáp Ngọ con xin thay mặt Gia Đình Teresa kính chúc Đức Cha luôn được tràn đầy Ân Sủng Chúa để chăn dắt chúng con trong thương yêu.

Sáng mùng Một Tết bên này con nhận được tin vui trọng đại do cha Tú thông báo, đó là Đức Cha đã đồng ý trên cơ bản là sẽ nâng Gia Đình Teresa lên Tu Đoàn Tông Đồ.

Chúng con đội ơn Đức Cha và xin hứa sẽ nhiệt thành dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Chúa. Chúng con sẽ học theo Con Đường Nhỏ Yêu Thương của Chị Thánh để sống và phục vụ làm rạng danh Giáo Phận Thanh Hóa.

Đức Cha đã khai sinh ra chúng con, ơn lớn lao này chúng con không biết lấy gì đền đáp chỉ biết dâng lên Đức Cha tấm lòng thành của chúng con kính mong Đức Cha thương nhận. Kính xin Đức Cha tha thứ cho chúng con những yếu kém sai sót và giúp đỡ chúng con sống và phục vụ noi gương Chị Thánh để Gia Đình Teresa Thanh Hoá sẽ sánh vai cùng các Cộng Đoàn Tu Sỹ khác xây dựng Giáo Hội trong Thương Yêu và Phó Thác.
Con cái của Đức Cha,

Đại Diện Gia Đình Teresa

Phó Tế Vũ Thành An
From: NGUYEN CHI LINH <ngchil@gmail.com>
To: an Vu <vuthanhan@yahoo.com>

Sent: Saturday, February 8, 2014 6:38 PM
Subject: Re: HOI AM

Cám ơn thầy An đã gửi lời chúc mừng năm mới.
Chúc mừng thầy về đứa con tinh thần – gia đình Têrêxa – cho tới nay vẫn bình an tốt đẹp.
Cha Tú đã làm đơn xin nâng gia đình lên hàng tu đoàn. Tôi sẽ nghiên cứu lại và sẽ có trả lời chính thức bằng văn bản.
Cầu chúc thầy, gia đình Têrêxa và quý quyến một năm mới an lành thánh đức.
Thân ái
Jos Nguyễn chí Linh
Thanh hoá
Vào 02:10 Ngày 12 tháng 02 năm 2014, an Vu <vuthanhan@yahoo.com> đã viết:

Trọng Kính Đức Cha,

Con biết Đức Cha rất thương và nâng đỡ chúng con, ơn lớn lao này chúng con không bao giờ quên.

Con xin mạo muội kính trình Đức Cha như sau:

Con vừa có phiên họp Gia Đình Teresa tại Portland và có cha Elias L. Ayuban, Jr. CMF tham dự. Cha Elias đang làm việc trong văn phòng ở Vatican xem xét các Hiến Chương của các Cộng Đoàn xin thành lập Dòng.

Cách đây mấy năm cha Elias có giúp con viết Constitutions cho Gia Đình Teresa (Con đính kèm email này-). Cha Elisas cũng đã giúp thành lập nhiều Hội Dòng tại Phi Luật Tân.

Trong phien họp con cũng vui mừng thông báo với anh chị em là Đức Cha đang nghiên cứu để nâng chúng con lên thành Tu Đoàn Tông Đồ.

Cha Elias nói cha có thể giúp để thành lập cộng đoàn đúng theo Giáo Luật . Cha muốn kính góp ý giúp Đức Cha ban hành Nghị Định đúng nghi thức.

Theo cha Elias thì tiến trình đúng nhất là khởi đầu cần phải thành lập một Hiệp Hội Tư ( Private Association) như chúng con đang có sau đó Đức Giám Mục ra nghị định thành lập Hiệp Hội Công ( Public Association )- chỉ cần 10-15 Hội viên là được. sau đó có ít nhất 40 thành viên sẽ tiến hành thủ tục xin Vatican thành lập Societies of Apostolic Life or Institutes of consecrated life.
Các Đức Giám Mục Địa Phận có thể tự mình thành lập các Hiệp Hội Công ( Điều 312 Giáo Luật )

Đối với các Tu Đoàn hay Hội Dòng: Đức Giám Mục hỏi ý kiến Toà Thánh trước khi thành lập:
Điều 579: Trong Lãnh Thổ của mình , các Giám Mục giáo phận có thể thành lập các Hội Dòng Tận Hiến bằng nghị định hợp thức , miễn là sau khi đã bàn hỏi ý kiến của Toà Thánh.
Can. 579 Provided the Apostolic See has been consulted, diocesan Bishops can, by formal decree, establish institutes ofconsecrated life in their own territories.

Như vậy chắc Đức Cha đã biết trước khi Đức Cha nâng chúng con lên Tu Đoàn, cần phải trình lên Toà Thánh : Hiến Pháp, Danh Sách Thành Viên, Mẫu Tu Phục… để xin ý kiến. Có thể rất may mắn cho chúng con là cha Elias đang làm việc trong văn phòng xét duyêt Hiến Pháp, ngài sẽ giúp đỡ chúng con. Đặc biệt chính ngài viết Hiến Pháp cho chúng con thì chắc không có gì trở ngại cả.

Nếu Đức Cha nâng chúng con lên Hiệp Hội Công thì có thể ký nghị định ngay. Hiến Chương đã có sẵn. Sau một thời gian xem xét Đức Cha sẽ tiến hành xin ý kiến Toà Thánh thành lập Tu Đòan hay Hội Dòng Tận Hiến. Cha Elias có thể gửi cho Đức Cha các mẫu Nghị Định để Đức Cha tham khảo.

Đây là email của cha Elias: elijrcmf@yahoo.com

Cha Elias có nói là sẽ giúp từng bước trong thủ tục thành lập Cộng Đoàn.

Con xin trân trọng kính trình Đức Cha những thông tin trên, nếu có gì không phải xin Đức Cha tha thứ cho con.

Con kính chúc Đức Cha sức khoẻ.

Phó Tế Vũ Thành An

Ngày 13 tháng 2 năm 2014
Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh gửi email:
Thầy An và cha Tú thân mến,
Trên nguyên tắc, tôi sẵn sàng ủng hộ tất cả những hoạt động nào đem lại lợi ích cho bất kỳ đối tượng nào trong xã hội và Giáo hội, trừ phi xét thấy những hoạt động ấy một cách nào đó gây tổn hại cho Cộng đoàn Dân Chúa.
Gần đây, cha Tú đã nộp đơn xin nâng gia đình Têrêxa lên bậc “tu đoàn”. Tôi xin có ý kiến như sau :
1. Cho tới nay, gia đình Têrêxa chưa có hoạt động nào tiêu cực trong địa bàn Giáo Phận Thanh hoá.
2. Khả năng công nhận Gia đình như một tu đoàn, đối với tôi không có gì trở ngại, miễn sao mọi thủ tục liên quan hợp giáo luật.
3. Tuy nhiên, xét rằng mới gần đây, trong cuộc họp tháng 10 của HĐGMVN, vấn đề sắc phục và lời tuyên thệ của chị em trong gia đình đã gây ra ít nhiều ngộ nhận.
4. Vì thế một đàng chúng ta cứ tiến hành thủ tục giáo luật, một đàng chúng ta không nên quá vội vã. Chờ đến khi không còn nguy cơ bị ngộ nhận.

Hy vọng với những cố vấn chuyên nghiệp như cha Elias do thầy An giới thiệu, mọi sự sẽ không đến nỗi khó khăn.
Cầu chúc thầy An và cha Tú luôn tìm thấy niềm vui trong linh đạo Gia đình Têrêxa.
Thân ái
Giuse Nguyễn chí Linh
Trưa Thứ Năm ngày 20 tháng 3 vừa qua con đã được Đức Tổng Giám Mục Portland Alexander K. Sample tiếp tại Toà Tổng Giám Mục. Con đã trình bầy cho Đức Tân Tổng Giám Mục các diễn tiến hình thành và phát triển của Gia Đình Teresa. Trước đó con cũng đã gửi báo cáo chi tiết cho nên Đức Tổng Giám Mục đã hiểu rõ được nguyện vọng của chúng con. Cuối buổi gặp mặt con đã mời Ngài sang chủ tọa một Đại Hội chúng con gọi là The First International Mission to the Poor of the Family of Saint Therese of the Child Jesus tại Philippines. Sau khi hỏi về địa điểm, thời gian, các sinh hoạt của Đại Hội, Đức Tổng Giám Mục Sample có ngỏ ý là ngài có thể sẽ đi, nếu không sẽ có Giám Mục Phó đại diện và ngài còn nói thêm Đức Cựu Tổng Giám Mục John G. Vlazny là người ký Nghị Định thành lập the Family of Saint Therese of the Child Jesus năm 2009 có thể sẽ rất vui để tham dự.
Đây là những điểm chính của Đại Hội:
1. Thời gian: từ ngày 19 đến 29 tháng 10 năm 2015
2. Địa điểm: Quezon City, Manila, Philippines.

MỜI GỌI XIN ƠN THÁNH HÓA
Xin Chúa Thánh Hoá Chúng Ta

Có một ông cụ kia mua vé Du Lịch Trên Biển ( Cruise) một tuần lễ. Khi lên tầu cụ mang theo Cơm Nắm Muối Vừng.
Cứ đến mỗi bữa ăn mọi người lên Phòng Ăn thưởng thức các món Sơn Hào Hải Vị ngon lành thì cụ vào phòng đóng cửa lại và mang Cơm Nắm Muối Vừng ra ăn.
Mọi người lấy làm lạ và nghĩ rằng cụ có bệnh không ăn được đồ biển.
Đến ngày cuối cùng có một thanh niên mạnh dạn tới hỏi cụ: Sao cụ lại chỉ ăn Cơm Nắm Muối Vừng, cụ có bệnh gì sao?.
Cụ ông trả lời: Tôi đâu có bệnh gì nhưng vì tôi nghèo lắm không có tiền để ăn đồ biển, tôi cũng thèm lắm chứ.
Chàng thanh niên bèn đáp: Cụ ơi, khi cụ mua vé là cụ đã trả tiền ăn rồi. Vé cụ mua có bao ăn và mọi thứ vui chơi trên tầu. Tiếc quá bây giờ đã là lúc phải rời tầu rồi.
Cụ già tiếc ngẩn người, cụ biết ra thì đã muộn. Đáng lẽ cụ được ăn ngon và vui chơi thoả thích rồi.

Chúa đã nói với chúng ta:

Các con hãy trở nên toàn thiện như Cha trên Trời toàn thiện.(Mtthew 5-48)

Khi chúng ta được sinh ra là Chúa đã cho chúng ta có cơ hội trở nên toàn thiện có nghĩa là được Nên Thánh.
Chúng ta hãy đừng giống như cụ già kia để lỡ mất cơ hội đuợc hưởng những gì đáng lẽ được hưởng.
Chị Thánh Teresa Hài Đồng GiêSu trước khi vào Dòng Kín Lisieux cũng chỉ là một thiếu nữ bình thường nhưng chị đã khát khao được nên Thánh. Chị vào Dòng Kín Lisieux với quyết tâm nên Thánh.
Với Ơn Chúa chị đã tìm được phương pháp Nên Thánh nhanh nhất, dễ dàng nhất đó là Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng hay là Con Đường Nhỏ Yêu Thương. Chị đã thực hành phương pháp đó và đã thành công. Chỉ mấy năm tu luyện chị đã trở thành Thánh Tiến Sỹ của Hội Thánh Công Giáo.
Chúng ta hãy đặt Xin Ơn Thánh Hoá –Xin Chuá Thánh Hoá chúng ta là mục đích của đời sống chúng ta.
Xin Ơn Thánh Hoá là mục đích thì chúng ta sẽ xem thường Tiền Bạc, Danh Vọng Địa Vị..là những thứ thường đem lại đau khổ cho con người.
Xin Ơn Thánh Hoá là mục đích thì chúng ta cũng xem thường luôn cả sự đau khổ là điều con người bình thường luôn né tránh.
Xin Ơn Thánh Hoá là mục đích thì chúng ta sẽ thấy luôn được bình an và hạnh phúc.
Muốn trở nên Bác Sỹ thì ta phải vào học trường Y Khoa. Ở đó ta được học lý thuyết, được thực hành và được thi.
Muốn Nên Thánh chúng ta cần phải vào một Dòng Tu, Một Tu Hội, một Tu Viện… để cũng được học lý thuyết, thực hành và được thử thách.
Chúng tôi xin mời gọi anh chị em vào Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng GiêSu để được đào tạo trở thành Thánh giống như Chị Thánh Teresa.
Vào Gia Đình Teresa anh chị em sẽ được học hỏi kỹ lưỡng phương pháp Nên Thánh của Chị Teresa. Phương pháp của chị rất dễ dàng, ai cũng có thể thực hiện được vì mấu chốt của Con Đường Nhỏ Yêu Thương là: Làm những việc bình thường với hết long yêu thương. Ở bất cứ hoàn cảnh sống nào ai cũng có những việc bình thường hàng ngày phải làm, nếu làm những việc bình thường ấy với hết long yêu thương thì đã có thể Nên Thánh.
Vào Gia Đình Thánh Teresa để được đón nhận Ơn Chúa. Gia Đình Thánh Teresa là một Đại Gia Đình , nơi đó Thiên Chúa làm chủ, Thánh Nữ Teresa Hài Đồng GiêSu là Quản Gia và các thành viên là những người phục vụ. Chúng ta sẽ phục vụ ai?, thưa phục vụ Chúa trong các Cụ Cao Niên.
Trong khi phục vụ với phương pháp của Chị Thánh Teresa các thành viên có cơ hội được Nên Thánh.
Nên Thánh là gì?
Nên Thánh là biết ứng xử mọi hoàn cảnh trong đời sống như một vị thánh.
Trước một hoàn cảnh chúng ta có thể ứng xử theo 3 cách:
1. Ứng xử như một con người.
2. Ứng xử dưới sự ảnh hưởng của ma quỷ.
3. Ứng xử đúng theo lời dạy chủa Chúa như một vị Thánh.

Lấy ví dụ trong việc Chị Thánh Teresa đi giặt cùng với chị em khác trong dòng Carmel.
Chị Thánh viết trong cuốn Một Tâm Hồn:

Một lần khác ở nhà giặt, con ngồi giặt ở đằng trước một chị. Chị này giặt khăn tay, chốc chốc lại bắn nước bẩn vào con. Thoạt kỳ thuỷ, con muốn lùi ngay ra lau mặt cho chị ấy biết để giúp con một điều là đừng làm bắn nước bẩn vào con nữa. Nhưng nghĩ lại như thế là dại, vì bỏ mất những hạt ngọc người ta tặng cho mình một cách rất đại lượng, con đã thôi không tỏ vẻ khó chịu gì hết. Hơn nữa , con lại cố nén mình để ước ao nước bẩn ấy bắn lên con rất nhiều. Qua nửa giờ, con đã cảm thấy sự vui thú được vẩy nước bẩn, con định bụng sau này hễ có dịp lại đến chỗ Đất Lành ấy để làm giầu một cách quá ư dễ dàng.
(Một Tâm Hồn, chương Hai Hy Sinh Rất Đẹp, Kim Thiếu dịch)

Khi bị bắn nước dơ lên mặt chúng ta có thể có 3 các ứng xử:

1. Như một con người bình thường: Né tránh những giọt nước dơ, lòng hơi buồn phiền và nhắc cho người bắn nước dơ ngưng việc họ đã làm. ( Như Chị Thánh đã định phản ứng như vậy lúc đầu)
2. Như một người bị ảnh hưởng của ma quỷ: trong lòng giận dữ vì bị bắn nước dơ, cảm thấy bị coi thường và tìm cách trả thù tạt trở lại gấp bội.
3. Như một vị thánh: vui vẻ đón nhận những giọt nước dơ và coi đấy như là những giọt Ơn Phúc Chúa gửi tới. Trong lòng vẫn yêu thương người đã tạt nước dơ vào mình.

Trong 3 cách ứng xử trên thì mức độ TÌNH YÊU khác nhau:
Trường hợp số 1: Không có Tình Yêu hoặc nếu có thì rất ít.
Trường hợp số 2: Chỉ có Hận Thù.
Trường hợp số 3: Chỉ có Tình Yêu, đầy Ơn Chúa.
Nếu chúng ta luôn thức tỉnh thì chúng ta có thể có những ứng xử với lòng Thương Yêu như một vị thánh, như Thánh Nữ Teresa trong mọi hoàn cảnh của đời sống chúng ta.
Làm sao để có được TÌNH YÊU để có thể ứng xử như một vị Thánh?.
Phương pháp dễ nhất là: Van xin Chúa.
Trong mỗi Thánh Lễ vào lúc Linh Mục đọc lời cầu nguyện biến đổi Bánh và Rượu trở nên Mình và Máu Chúa, chúng ta hãy quỳ xuống, mở tâm hồn ra và bằng tất cả Đức Tin chúng ta hãy xin Chúa biến đổi chúng ta thành những Thánh Nhân của Người.
Vào Gia Đình Thánh Teresa Hài Đồng GiêSu để trở nên như những Thánh Teresa Nhỏ giữa đời.

Phó Tế Gioan Maria Teresa Vũ Thành An
Chúa Nhật Đầu Năm Phụng Vụ
Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng năm 2010, ngày 28 tháng 11.

ĐI TIẾP CON ĐƯỜNG THƠ ẤU THIÊNG LIÊNG.
Bằng Phương Pháp Van Xin

Phó Tế Gioan Maria Teresa Vũ Thành An

Những điểm căn bản của Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng của Chị Thánh Teresa Hài Đồng Giê Su:
1. Khiêm nhượng, trở nên như một em nhỏ.
2. Tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa.
3. Cầu Nguyện Liên Lỉ.
4. Làm những việc bình thường hàng ngày với hết lòng Yêu Thương.

Vấn đề mấu chốt là làm sao có được Khiêm Nhượng, Đức Tin và Tình Yêu?

Thưa: VAN XIN CHÚA

Đi Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng để đuợc gì? Thưa: được Nên Thánh.
Có Con Đường nào Nên Thánh ngay lập tức không?
Thưa có: Con Đường Van Xin.
Trước khi thi hành Sứ Vụ Chúa Giê Su đã biến đổi Nước thành rượu trong tiệc cưới Cana qua ý chuyển cầu của Đức Mẹ.
Chúng ta có thể XIN Chúa biến đổi chúng ta từ những con người tội lỗi thành một con người toàn thiện. Chúng ta cũng có thể XIN Đức Mẹ cầu bầu cho chúng ta.
Để chắc chắn đưọc Chúa Thánh Hoá ta phải có Đức Tin Mạnh Mẽ.
Đức GiêSu nói với người đàn bà Ca-na-an là dân ngoại đến xin cho đứa con gái được khỏi bị quỷ ám: Matt 15,28: “ Này bà, long tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.”
Đức GiêSu nói với các Môn Đệ: Matt 17,20: Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi này: “ Rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì anh em không làm được.”
Làm sao để có Đức Tin Mạnh? Thưa: Van Xin Chúa.
Làm sao chắc chắn có được điều mình xin? Cầu nguyện liên lỉ, không nản chí:

Matt 18, 19-20:
Thầy bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gi, thì Cha Thầy Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp vì danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
Luca 11,5-8:
Người còn nói với các ông: “ Ai trong anh em có một người bạn, và nửa đêm đến nhà người bạn ấy mà nói: “ Bạn ơi, cho tôi vay ba cái bánh, vì tôi có anh bạn lỡ đường ghé lại nhà, và tôi không có gì dọn cho anh ta ăn cả; mà người kia trong nhà lại đáp: “ Xin anh đừng quấy rầy tôi: cửa đã đóng rồi, các cháu lại ngủ cùng giường với tôi, tôi không thể dậy lấy bánh cho anh được.?” Thầy nói cho anh em biết: dẫu ngươì kia không dậy để cho người này vì tình bạn, thì cũng sẽ dậy để cho người này tất cả những gì anh ta cần, vì anh ta cứ lì ra đó.

Luca 18, 1-8:
Đức GiêSu kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây , để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí: “ Người nói: “ Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: “Đối phưong tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho.” Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: “ Dẫu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Nhưng mụ góa này quấy rầy mãi, thì ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.”
Rồi Chúa nói: “ Anh em nghe quan toà bất chính nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa không lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu Người sao?. Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi mãi?. Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa không?.
Khi đã có Đức Tin mạnh mẽ rồi xin gì Chúa cũng sẽ cho.
Chi Thánh viết: Khi Chúa gợi ý cho chúng ta xin gì thì Chúa đã sẵn sàng đáp ứng rồi.
Chúng ta đừng xin gì nhiều, hãy chỉ xin một điều thôi. Khi có điều này chúng ta sẽ có tất cả bây giờ cũng như vĩnh viễn mai sau, đó là Được Chúa Thánh Hoá.

Matt 6-31: ( Luca 22, 22-31) Anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì , uống gì, hay mặc gì đây?. Tất cả những thứ đó dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh cần những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.
Trong mỗi Thánh Lễ giây phút quan trọng nhất là lúc Linh Mục Đọc Lời Cầu Nguyện Thánh Thể. Bằng quyền lực của Chúa ThánhThần bánh và rượu sẽ được biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô. Trong giây phút linh thiêng ấy chúng ta hãy quỳ xuống, mở tâm hồn ra và bằng tất cả Đức Tin chúng ta hãy xin Chúa biến đổi chúng ta thành những Thánh Nhân của Người.
Trong giấy phút ấy Quyền Lực của Chúa Thánh Thần sẽ xuống giống như dòng điện Thiêng Liêng cực mạnh biến đổi vật chất đơn sơ là bánh và rượu trở nên Con Thiên Chúa. Chúng ta hãy đón nhận những tia sáng dư thừa của thần lực ấy toé ra từ bàn tay của Linh Mục để nhận lấy Ơn Biến Đổi của Chúa.

Nếu chúng ta được Chúa cho Đức Tin mạnh mẽ thì ngay lúc ấy chúng ta đã là Thánh Nhân của Chúa rồi. Nếu không ít ra tia sáng thiêng liêng của Quyền Năng Chúa Thánh Thần sẽ tẩy rửa bớt những đen đuá nhơ nhớp của tội lội trong con người của chúng ta. Và trong suốt cuộc đời , qua nhiều Thánh Lễ dần dần chúng ta cũng sẽ được thanh sạch hơn.

Chúa đã ra lệnh cho chúng ta phải trở nên hoàn thiện:
Matt 5- 48: Vậy anh em sẽ nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng toàn thiện.
Như vậy nếu chúng ta XIN Chúa cho chúng ta điều Chúa muốn cho chúng ta chả lẽ Chúa chối từ, chắc chắn người sẽ ban cho. Người giầu có vô cùng sẵn sang ban cho chúng ta nhiều hơn điều chúng ta xin nữa nếu hợp với Ý của Người.
Trong Bài GiảngTrên Núi Chúa đã nói:
Matt 5-6: ( Phúc thứ 4 ):
Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
Vì họ sẽ đươc Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Như vậy nếu chúng ta xin Chúa Thánh Hoá chúng ta, Người sẽ sẵn sàng làm.
Chúng ta hãy cứ VAN XIN Chúa mãi cho đến khi Chúa động lòng thương, khi Người muốn chúng ta sẽ được Chúa Thánh Hoá:
Matt 8,1-3: Khi Đức Giê Su ở trên núi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. Bỗng có một người phong hủi tiến lại, bái lạy Người và nói: “ Thưa Ngài , nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch.” Người giơ tay đụng vào anh và bảo: “ Tôi muốn, anh sạch đi.” Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi.

Matt 7-7-10 ( Luca 11-,9-13)
Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em , khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá?. Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn? Vậy anh em là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?.

Có cách nào biết là chúng ta đã được Ơn Thánh Hoá?:
Thưa: nếu chúng ta đã bắt đầu Yêu mọi người chung quanh, yêu công việc nhỏ bé hàng ngày, yêu cả sự đau khổ và nhất là YÊU, THA THỨ, CẦU NGUYỆN cho kẻ thù, những người làm hại chúng ta là chúng ta đã được Chúa nhậm lời và đã trở nên những Thánh Nhân nhỏ giữa đời.!

Share. Facebook Twitter Pinterest LinkedIn Tumblr Email
vuthanhan

Related Posts

Blog

LIST TO HEAVEN INTERNATIONAL

November 8, 2025
Blog

THE STORY OF Saints LOUIS AND ZÉLIE MARTIN

November 8, 2025
Blog

INVITATION TO ASK GOD FOR HIS SANCTIFICATION GRACE

November 8, 2025
Add A Comment
Leave A Reply Cancel Reply

Top Posts

Bùng Cháy Lên Ngọn Lửa Tình Yêu

November 8, 20253 Views

SAINT THERESE COLLEGE

November 2, 20252 Views

The FIRST CHURCH

November 2, 20252 Views
Stay In Touch
  • Facebook
  • YouTube
  • TikTok
  • WhatsApp
  • Twitter
  • Instagram
Latest Reviews

Subscribe to Updates

Get the latest tech news from FooBar about tech, design and biz.

Bài viết phổ biến

Bùng Cháy Lên Ngọn Lửa Tình Yêu

November 8, 20253 Views

SAINT THERESE COLLEGE

November 2, 20252 Views

The FIRST CHURCH

November 2, 20252 Views
Facebook X (Twitter) Instagram YouTube
© 2026 VUTHANHAN. Designed by Vuthanhan.foundation.

Type above and press Enter to search. Press Esc to cancel.